Chương 1: Lý luận chung về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp. Chương 2: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần LILAMA 69-3. Chương 3: Hoàn thiện kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả sản xuất kinh doanh tại Công ty cổ phần LILAMA 69-3. 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp ảnh hƣởng đến kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Thứ nhất, địa điểm sản xuất không cố định. Trong xây lắp, mỗi công trình được tiến hành ở một địa điểm khác nhau. Sau khi hoàn thành công trình, con người, công cụ lao động, máy móc thiết bị phục vụ thi công đều phải di chuyển đến địa điểm mới.
Đặc điểm này khiến cho việc tổ chức sản xuất không ổn định, làm phát sinh các chi phí như chi phí điều động nhân công, máy thi công, chi phí xây dựng nhà tạm cho công nhân viên, chi phí chuẩn bị mặt bằng, chi phí dọn mặt bằng trước và sau khi thi công xong. Thứ hai, thời gian thi công công trình thường kéo dài. Do sản phẩm xây lắp có quy mô lớn nên thời gian thi công dài. Thời điểm ghi nhận doanh thu và kỳ xác định kết quả kinh doanh phụ thuộc điều khoản cụ thể của từng hợp đồng, nhà thầu có thể được nghiệm thu và thanh toán theo giai đoạn quy ước, hoặc được thanh toán theo tiến độ hợp đồng hoặc khi công trình hoàn thành, được nghiệm thu bàn giao.
Do đặc điểm này mà việc xác định chính xác thời điểm và giá trị ghi nhận doanh thu có ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh đó, việc tập hợp chứng từ liên quan chi phí phức tạp và khó khăn. Khi hạch toán doanh thu và chi phí của hợp đồng xây lắp chú ý đến nhân tố thời gian và sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí để doanh nghiệp xây lắp xác định chính xác kết quả hoạt động kinh doanh. Thứ ba, sản xuất xây lắp mang tính đơn chiếc theo đơn đặt hàng: các sản phẩm xây lắp không giống nhau, sản xuất đơn chiếc theo từng đơn đặt hàng thông qua hình thức ký kết hợp đồng sau khi thắng thầu hoặc do được chỉ định thầu.
Do được thi công trên các địa bàn khác nhau, mỗi công trình có thiết kế riêng. Vì vậy chi phí bỏ ra để thi công xây lắp các công trình có nội dung và cơ cấu không giống nhau. Quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp được thực hiện thông qua việc nghiệm thu và bàn giao công trình, nghiệm thu khối lượng xây dựng hoàn thành cho bên 9 giao thầu vì vậy ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông tiêu thụ sản phẩm. Căn cứ vào bản vẽ, thiết kế thi công và giá cả công trình, doanh nghiệp xây lắp phải lập dự toán thiết kế, dự toán thi công, dự toán chi phí của công trình, hạng mục công trình trong hợp đồng xây lắp.
Kế toán phải tập hợp chi phí, tính giá thành, hạch toán doanh thu và kết quả thi công cho từng công trình xây lắp riêng biệt, từng hợp đồng xây lắp riêng biệt và việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải theo nguyên tắc phù hợp. Thứ tư, hoạt động xây lắp thường diễn ra ngoài trời nên chịu nhiều ảnh hưởng của các điều kiện thời tiết, tự nhiên, khí hậu, dẫn đến ảnh hưởng làm gián đoạn quá trình thi công, làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp như chi phí nhân công, khấu hao máy móc, chi phí quản lý phải trả trong thời gian thi công bị tạm dừng do các điều kiện khách quan. Những tổn thất do yếu tố khách quan dẫn đến việc tập hợp chi phí rất khó chính xác. Đặc điểm này ảnh hưởng thời gian nghiệm thu thanh toán và hạch toán doanh thu.
Thứ năm, tổ chức quá trình sản xuất xây lắp rất phức tạp: Do địa bàn thi công khác nhau, mỗi một công trình có một cách thức tổ chức sản xuất khác nhau. Bên cạnh đó, trong quá trình thi công xây dựng, tùy vào từng công trình mà có thể có nhiều đơn vị tham gia thực hiện thi công một hay nhiều hạng mục trong công trình đó theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công. Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp phải phối hợp nhịp nhàng, tránh tình trạng chồng chéo, kiểm tra, giám sát tốt hoạt động thi công để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình, sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có của các doanh nghiệp, tổ chức công tác kế toán doanh thu và chi phí của hợp đồng xây lắp phải khoa học nhằm đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin một cách trung thực, kịp thời và đầy đủ nhất về tình hình hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp xây lắp.2 Khái niệm và phân loại chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh.1 Khái niệm, bản chất và phân loại chi phí.1 Khái niệm, bản chất chi phí. Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau: Theo IASC định nghĩa về chi phí như sau: “Chi phí là các yếu tố làm giảm các lợi ích kinh tế trong niên độ kế toán dưới hình thức xuất đi hay giảm giá trị tài sản hay làm phát sinh các khoản nợ, kết quả là làm giảm nguồn vốn chủ sở hữu mà không do việc phân phối nguồn vốn cho các bên chủ sở hữu”. Theo chuẩn mực VAS 01 “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản chi tiền ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu”. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 của BTC về Hướng dẫn chế độ kế toán DN “CP là những khoản làm giảm lợi ích kinh tế, được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh hoặc khi có khả năng tương đối chắc chắn sẽ phát sinh trong tương lai không phân biệt đã chi tiền hay chưa”. Từ các khái niệm về CP, tác giả nhận thấy CP trong doanh nghiệp có các đặc điểm: - CP là sự giảm đi của các lợi ích kinh tế thu được trong kỳ kế toán dưới các hình thức khác nhau.
Sự giảm lợi ích này thực chất là làm giảm tạm thời nguồn vốn chủ sở hữu nhưng với mong muốn sẽ thu được các lợi ích kinh tế lớn hơn trong tương lai. - CP khi phát sinh làm giảm tương ứng vốn chủ sở hữu của DN nhưng không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu. Với đặc thù của hoạt động xây dựng, chi phí của hợp đồng xây lắp được hiểu là toàn bộ chi phí đã bỏ ra trong suốt tiến trình thực hiện hợp đồng xây lắp cho đến khi kết thúc hợp đồng và những khoản này làm giảm lợi ích kính tế thu được liên quan đến HĐXL trong kỳ kế toán. Theo đó chí phí của HĐXL bao gồm: chi phí liên quan trực tiếp đến từng hợp đồng, chi phí chung liên quan đến hoạt động của các 11 hợp đồng và có thể phân bổ cho từng hợp đồng cụ thể như chi phí bảo hiểm, chi phí quản lý chung, chi phí khấu hao tài sản cố định.2 Phân loại chi phí.
Trong quá trình thi công của DNXL phát sinh rất nhiều loại chi phí. Việc xác định đúng, đủ các khoản chi phí của một HĐXL là việc hết sức quan trọng và hết sức cần thiết trong các DNXL. Điều này phụ thuộc vào các cách phân loại chi phí của HĐXL. Có nhiều cách phân loại chi phí khác nhau.
a) Phân loại chi phí của HĐXL theo khoản mục chi phí: Chi phí được phân chia thành ba khoản mục chi phí sau: - Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT); - Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp (CPNCTT); - Khoản mục chi phí sản xuất chung (CPSXC). Đối với DNXL ngoài ba khoản chi phí nêu trên còn có thêm khoản mục chi phí sử dụng máy thi công (CPMTC) phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình. Theo cách phân loại này giúp DNXL biết được cơ cấu khoản mục tính giá thành sản phẩm xây lắp, lập dự toán cho từng hợp đồng xây lắp và định mức chi phí cho kỳ sau. Qua đó sẽ phục vụ cho việc quản lý chi phí theo dự toán, là cơ sở cho việc tính toán và tập hợp chi phí theo thực tế khoản mục.
Khi kết thúc thi công công trình, phục vụ yêu cầu quản lý, DNXL quyết toán và so sánh chi phí thực tế với dự toán, xem xét trên các góc độ khác nhau để thấy được công tác quản lý, thi công trong đơn vị đã thực sự hiệu quả chưa, có thể tiết kiệm hơn nữa ở khâu nào, công tác lập dự toán đã sát với thực tế chưa. Từ đó, doanh nghiệp đề ra được chính sách quản trị nhằm tiết kiệm chi phí đồng thời là cơ sở để DNXL xây dựng được đơn giá phù hợp phục vụ mục đích chào thầu, đấu thầu các công trình mới trong tương lai. b) Phân loại chi phí theo phương pháp tập hợp chi phi vào đối tượng chịu chi phí: Chi phí được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. - Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí như từng công trình, từng đơn hàng.
Chúng ta có thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng như CPNVLTT, CPNCTT và một phần CPMTC (chi phí ca máy thuê phục vụ riêng cho từng đơn hàng, từng công trình). 12 - Chi phí gián tiếp là những chi phí chung phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau như chi phí quản lý chung, chi phí bảo hiểm, chi phí khấu hao tài sản. Do liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí khác nhau nên chi phí gián tiếp thường được tập hợp chung, sau đó lựa chọn tiêu chí để phân bổ chi phí gián tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Tuy nhiên, mỗi đối tượng chịu chi phí thường chỉ phù hợp với một tiêu thức phân bổ nhất định.
Mặt khác, mỗi loại chi phí gián tiếp có thể chỉ liên quan đến đối tượng chịu chi phí khác.