CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CÁC KHOẢN THANH TOÁN VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận về kế toán các khoản thanh toán với người lao động trong doanh nghiệp. Một số khái niệm cơ bản.1 Khái niệm về tiền lương. Theo quan điểm của Mác: “Tiền lương là biểu hiện sống bằng tiền của giá trị sức lao động”.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Tiền lương là giá cả của lao động được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động”. Tại điều 90, chương VI theo Bộ luật lao động năm 2012 thì: Tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định.
Tiền lương trả cho người lao động căn cứ vào năng suất lao động và chất lượng công việc. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. Ở Pháp: “Sự trả công được hiểu là tiền lương hoặc lương bổng cơ bản, bình thường hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, được trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo việc làm của người lao động”. Ở Nhật Bản: “Tiền lương là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho người làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, như là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hưởng lương hoặc nghỉ lễ.
Tiền lương không tính đến những đóng góp của người thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hưu trí cho người lao động và phúc lợi mà người lao động được hưởng nhờ có những chính sách này. Khoản tiền được trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không được coi là tiền lương. SVTH: Hà Thị Ngọc 5 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán Tóm lại “Tiền lương là số tiền mà chủ doanh nghiệp trả cho người lao động căn cứ vào khối lượng, tính chất, và chất lượng lao động của từng người sau một thời gian làm việc.
Tiền lương là những khoản thu nhập chủ yếu dùng để bù đắp hao phí về thời gian, về sức lực, về trí tuệ và tích lũy cho người lao động trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp”. Chúng ta cần phân biệt giữa hai khái niệm tiền lương: - Tiền lương danh nghĩa: là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào NSLĐ và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc…ngay trong quá trình lao động. - Tiền lương thực tế: là số lượng hàng hóa tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ.2 Các khoản trích theo lương.
Ngoài tiền lương người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc phúc lợi xã hội trong đó có trợ cấp bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), kinh phí công đoàn (KPCĐ). - Theo Điều 3 Luật BHXH: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH". Nguồn hình thành bảo hiểm xã hội chủ yếu được trích lập theo tỷ lệ phần trăm tính trên tiền lương phải trả cho người lao động. Trong đó các doanh nghiệp được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một phần, một phần người lao động phải nộp.
Theo quy định hiện hành các doanh nghiệp phải trích BHXH 17% và thu từ người lao động 8% tính trên lương cơ bản. Về tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc, Điều 17, Nghị định 115/ 2015 quy định từ ngày 1/1/2016 đến ngày 31/12/2017, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động. Từ ngày 1/1/2018 trở đi, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong hợp đồng lao động. SVTH: Hà Thị Ngọc 6 GVHD: TS.
Nguyễn Thị Hồng Lam Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán - Bảo hiểm y tế là ngân quỹ được sử dụng để hỗ trợ chi cho việc khám chữa bệnh cho người lao động trong doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành thì số trích lập BHYT là 4,5% tính trên lương cơ bản của người lao động, trong đó doanh nghiệp tính trích vào chi phí sản xuất kinh doanh 3%, còn 1,5% người lao động phải nộp. - Bảo hiểm thất nghiệp là ngân quỹ được hình thành nhằm trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong trường hợp bị mất việc làm, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho người lao động. Theo quy định hiện hành thì quỹ BHTN được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu: Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng đóng BHTN, người sử dụng lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách 1% quỹ tiền lương của người lao động tham gia BHTN và mỗi năm chuyển một lần.
- Kinh phí công đoàn là khoản tiền để duy trì hoạt động của các tổ chức công đoàn đơn vị và công đoàn cấp trên. Các tổ chức này hoạt động nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao đời sống của người lao động. Theo nghị định 191/2013 NĐ-CP doanh nghiệp phải đóng mức kinh phí công đoàn bằng 2% quỹ tiền lương để làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Quỹ tiền lương này là tổng tiền lương của người lao động thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội.
Phí công đoàn được đóng mỗi tháng một lần cùng thời điểm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động.3 Các khoản thanh toán khác. o Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội phát sinh trong kỳ tính thuế (thường là một năm). Thuế TNCN phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế.
Thuế TNCN là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã hội, là một công cụ đảm bảo nguồn thu quan trọng cho ngân sách. Góp phần quan trọng trong điều tiết kinh tế vĩ mô vì SVTH: Hà Thị Ngọc 7 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán thế ở mỗi thời kỳ kinh tế phát triển khác nhau Nhà nước sẽ điều chỉnh mức thuế TNCN khác nhau để điều tiết vĩ mô nền kinh tế sao cho phù hợp. Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN.
o Quỹ khen thưởng. Là tổng số tiền doanh nghiệp trả cho người lao động nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động, rút ngắn thời gian làm việc. Tiền thưởng thực chất là những khoản thu nhập ngoài lương mà doanh nghiệp trả cho người lao động. - Đối tượng xét thưởng: + Lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên.
+ Có đóng góp vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. - Mức thưởng: mức thưởng một năm không thấp hơn một tháng theo nguyên tắc sau : + Căn cứ vào kết quả của người lao động với doanh nghiệp thể hiện qua năng suất lao động chất lượng công việc. + Căn cứ vào thời gian làm việc tại doanh nghiệp. - Các loại tiền thưởng: + Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng) và tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sang kiến,.) + Tiền thưởng trong sản xuất kinh doanh (thường xuyên): hình thức này có tính chất lương, đây thực chất là một phần của quỹ lương được tách ra để trả cho người lao động dưới hình thức tiền thưởng của một tiêu chí nhất định.
+ Tiền thưởng về chất lượng sản phẩm: được tính trên cơ sở tỷ lệ quy định chung (không quá 40%) và sự chênh lệch giá sản phẩm cấp cao và sản phẩm cấp thấp. SVTH: Hà Thị Ngọc 8 GVHD: TS. Nguyễn Thị Hồng Lam Khóa luận tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán + Tiền thưởng thi đua (không thường xuyên): khoản tiền này được trả dưới hình thức phân loại trong một kỳ. o Các khoản phụ cấp mang tính chất tiền lương.
- Là các khoản tiền trả thêm cho người lao động do đảm nhiệm thêm trách nhiệm quản lý hoặc làm việc trong các ngành nghề độc hại hoặc ca làm đêm. - Phân loại phụ cấp: + Phụ cấp trách nhiệm: nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công việc chuyên môn nghiệp vụ, vừa kiêm nhiệm công tác quản lý hoặc những người đòi hỏi tách nhiệm cao chưa được xác định trong mức lương. Phụ cấp trách nhiệm được tính và trả cùng trong lương tháng. + Phụ cấp thu hút: áp dụng với CBCNV đến làm việc tại vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và các đảo xa có điều kiện sinh hoạt đặc biệt khá khăn do chưa có cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động.