LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách “Đổi mới”, đổi mới về kinh tế song song với việc đổi mới hành chính, chính trị và giáo dục,… chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Mục đích quan trọng nhất của cuộc cải cách này là khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tƣ nhân cũng nhƣ thúc đẩy các hoạt động thƣơng mại quốc tế của các doanh nghiệp trong nƣớc với các đối tác nƣớc ngoài. Từ đó, thúc đẩy sự tự do lƣu thông hàng hóa trong và ngoài nƣớc, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài và đặc biệt là mở ra cho Việt cơ hội rất lớn để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Các hoạt động thƣơng mại của Việt Nam dần đƣợc tự do hóa đƣa Việt Nam từ một trong những nƣớc nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Trong những năm gần đây, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng thị trƣờng, tiếp cận thị trƣờng toàn cầu, thúc đẩy thƣơng mại với các đối tác nƣớc ngoài Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký kết một số hiệp định thƣơng mại tự do song phƣơng và đa phƣơng nhƣ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dƣơng (TPP), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA), Hiệp định Thƣơng mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á- Âu (EEUV-FTA), Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA). Ngoài những chính sách thƣơng mại cởi mở hơn, Việt Nam đã cải thiện mạnh mẽ môi trƣờng đầu tƣ, đặc biệt là sự ra đời Luật đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1987, đã thu hút một lƣợng lớn nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Những nỗ lực của Chính phủ để thu hút dòng vốn FDI đã tạo ra những kết quả đáng khích lệ.
Tính đến năm 2018, Việt Nam đã thu hút đƣợc 27.352 dự án với tổng số vốn đăng ký lên đến 340.159,45 tỷ USD đã tăng lên gấp nhiều lần so với thời kỳ mở cửa. Sự tăng lên về đầu tƣ nƣớc ngoài không chỉ tăng trƣởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành, giải quyết vấn đề lao động, việc làm, lan tỏa công nghệ mà còn đóng góp rất lớn vào giá trị xuất khẩu của Việt Nam trong năm qua góp phần củng cố vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mặc dù hoạt động xuất khẩu đã có sự tăng lên vƣợt bậc trong thời gian qua, nhƣng giá trị thu về vẫn chƣa cao do xuất khẩu một lƣợng lớn sản phẩm cuối cùng trong khi đó tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu đầu vào còn quá cao. Nhƣ vậy, có thể thấy, Việt Nam vẫn đang ở khâu lắp ráp, chế tạo, đem lại giá trị gia tăng thấp nhất.
Tham gia vào chuỗi giá trị là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Việt Nam cần tận dụng tối đa lợi thế từ nguồn đầu tƣ nƣớc ngoài để có thể gia nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, từ nhƣng phân tích ở trên có thể thấy, bên cạnh những tác động tích cực, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức. Do đó, việc phân tích tác động của FDI đến vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu Khóa luận đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những mục tiêu sau: • Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, mối quan hệ giữa FDI và chuỗi giá trị toàn cầu. • Nghiên cứu thực tiễn về luồng vốn FDI sang Việt Nam và tác động của FDI đến vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Từ đó, chỉ ra nguyên nhân hạn chế các tác động tích cực từ FDI. • Đƣa ra một số những khuyến nghị chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc và các doanh nghiệp trong nƣớc nhằm cải thiện vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Phƣơng pháp nghiên cứu Khóa luận đƣợc nghiên cứu thông qua việc sử dụng các phƣơng pháp khoa học: phƣơng pháp luận duy vật biện chứng, phƣơng pháp duy vật lịch sử và phƣơng pháp thống kê, so sánh… với sự hỗ trợ của các công cụ minh họa nhƣ bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc khóa luận Khóa luận bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU VÀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI CHƢƠNG 2: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VỊ TRÍ CỦA VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CHƢƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Chuỗi giá trị toàn cầu 1.1 Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu Cho tới nay, có rất nhiều định nghĩa cho thuật ngữ “chuỗi giá trị”, các nhà nghiên cứu đứng từ các góc độ khác nhau của nền kinh tế lại đƣa ra những định nghĩa khác nhau phản ánh nhiều mặt trong bản chất của “chuỗi giá trị”. Khái niệm về chuỗi giá trị đƣợc đề cập đến lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách nổi tiếng “Competitive Advantage” của nhà kinh tế học Michael E.Porter, ông đã phát triển khái niệm và mô hình về chuỗi giá trị ở cấp độ doanh nghiệp và từ đó nó đã trở thành công cụ để xác định và nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Ông cho rằng chuỗi giá trị là tập hợp các hoạt động riêng biệt trong một công ty bao gồm: thiết kế, sản xuất, tiếp thị và phân phối sản phẩm của mình.” Trong cuốn “Handbook for value chain” (2002), theo quan điểm của tác giả Raphael Kaplinsky và Mike Morris: “Chuỗi giá trị mô tả tất các hoạt động cần thiết để đƣa sản phẩm dịch vụ từ ý tƣởng, thông qua khâu chế biến (bao gồm sự kết hợp các hoạt động chế biến vật lý với các dịch vụ cung ứng nguyên liệu cho hoạt động sản xuất), cung cấp hàng hóa đến tay ngƣời tiêu dùng và cuối cùng là hoạt động tái chế”. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bốn mắt xích trong chuỗi gía trị giản đơn Sản xuất Thiết kế -Logistics nội bộ và phát -Chế biến Tiêu thụ/ Marketing triển sản Tái chế -Đầu vào phẩm -Đóng gói -etc Nguồn: Handbook for value chain, 2002 Ta có thể thấy, hoạt động sản xuất chỉ là một trong số mắt xích giá trị gia tăng. Hơn nữa, có rất nhiều hoạt động trong mỗi mắt xích của chuỗi giá trị.
Mặc dù chuỗi giá trị thƣờng đƣợc mô tả theo chiều dọc, các mắt xích trong chuỗi giá trị thƣờng có quan hệ hai chiều; nhƣ việc thiết kế không chỉ ảnh hƣởng đến bản chất quá trình sản xuất và marketing mà bản thân nó còn phải chịu tác động ngƣợc của các liên kết trong chuỗi. Nhƣ vậy, có thể tiếp cận chuỗi giá trị theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: chuỗi giá trị là một phức hợp các hoạt động do nhiều công ty khác nhau tham gia thực hiện (sản xuất sơ cấp, gia công chế biến, nhà phân phối, nhà cung cấp các dịch vụ.) để biến nguyên liệu thô thành thành phẩm đƣa ra bán ở thị trƣờng. Theo cách tiếp cận này không xem xét đến các hoạt động do một doanh nghiệp duy nhất tiến hành, mà nó xem xét cả các mối liên kết ngƣợc xuôi cho đến khi nguyên liệu thô đƣợc sản xuất và kết với với ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Theo nghĩa hẹp: chuỗi giá trị bao gồm một chuỗi các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra một sản phẩm hay dịch vụ nhất định. Các hoạt động này gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn đƣa ra ý tƣởng, thiết kế sản phẩm, chuẩn bị nguyên vật liệu, sản xuất, marketing, phân phối sản phẩm và tái chế. Hơn nữa, mỗi hoạt động trong chuỗi lại bổ sung giá trị cho sản phẩm cuối cùng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, giao thƣơng giữa các quốc gia trên thế giới trở nên phổ biến và dễ dàng hơn.
Thƣơng mại và sản xuất đang đƣợc cấu trúc xung quanh các chuỗi giá trị và không chỉ dừng lại ở một công ty hay một quốc gia mà ngày càng lan rộng sang quốc gia khác. Điều này có nghĩa là các công ty ở những khu vực địa lý khác nhau trên toàn cầu thƣờng xuyên tác động kinh tế lẫn nhau với mức độ lớn hơn so với trƣớc đây. Nhƣ vậy, chuỗi giá trị đƣợc trải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu – Global value chain (GVC). Gereffi (1999) đã đƣa ra khái niệm về chuỗi giá trị toàn cầu, bao gồm toàn bộ khâu R & D của giai đoạn trên, sản xuất và lắp ráp phụ tùng ở giai đoạn giữa, bán hàng, xây dựng thƣơng hiệu và dịch vụ đƣợc tìm thấy ở giai đoạn thấp hơn và giai đoạn thấp hơn nữa là lắp ráp sản.
Nhƣ vậy, có thể hiểu chuỗi giá trị toàn cầu (GVCs) là một mạng lƣới các giai đoạn sản xuất hàng hóa và dịch vụ đƣợc liên kết với nhau qua biên giới quốc tế. Thông thƣờng, GVCs bao gồm việc kết hợp hàng hóa và dịch vụ đƣợc nhập khẩu và sản xuất trong nƣớc thành các thành phẩm sau đó chúng đƣợc xuất khẩu để sử dụng làm trung gian trong giai đoạn sản xuất tiếp theo hoặc làm sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Phần lớn, các công ty đều cố gắng tối thiểu hóa chi phí và nâng cao lợi nhuận bằng sự chuyên môn hóa trong từng công đoạn sản xuất. Tất cả các công đoạn trong toàn bộ quá trình sản xuất phải đƣợc thực hiện bài bản và có hệ thống, giống nhƣ những mắt xích liên kết với nhau.
Do sự khác biệt về lợi thế so sánh giữa các quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu, các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển có thể có xu hƣớng tham gia vào các hoạt động sản xuất cấp cao nhƣ R & D, thiết kế và xây dựng thƣơng hiệu trong giai đoạn tiền sản xuất, các dịch vụ sau bán hàng, marketing và phân phối sản phẩm trong giai đoạn hậu sản xuất. Bên cạnh đó, nhằm tối thiểu hoá chi phí và tăng trƣởng doanh số, doanh nghiệp lớn thƣờng chuyển giai đoạn sản xuất sang các nƣớc đang phát triển. Nhƣ vậy, tại các quốc gia đang phát triển, có thể có xu hƣớng tập trung vào các hoạt động cấp thấp nhƣ sản xuất và lắp ráp. Đây là giai đoạn mang giá trị thấp nhất trong chuỗi giá trị.