Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là chiến lược phát triển kinh tế - xã hội toàn diện khu vực nông thôn. Huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn là địa bàn miền núi đặc thù với 19 xã và 01 thị trấn, bao gồm 09 xã khu vực III đặc biệt khó khăn và 12 xã thuộc vùng An toàn khu (ATK). Tính đến hết năm 2018, toàn huyện mới chỉ có 5 trên tổng số 19 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng tỷ lệ 26,32%. Rào cản lớn nhất đối với địa phương là bài toán mất cân đối cung cầu tài chính khi tổng nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2016 - 2020 lên tới 1.192.443,7 triệu đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ dự kiến là 734.593,1 triệu đồng. Tuy nhiên, nguồn vốn thực tế phân bổ trong 03 năm từ 2016 đến 2018 chỉ đạt 620.354 triệu đồng, tạo nên khoảng trống hụt vốn tới hơn 47,9% so với tổng kế hoạch phát triển hạ tầng và sản xuất.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng, nhận diện các yếu tố tác động đến khả năng huy động nguồn lực và đề xuất hệ thống giải pháp nâng tỷ trọng nguồn vốn ngoài ngân sách lên trên 35% trong giai đoạn tới. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào toàn bộ 19 xã của huyện Bắc Sơn với trọng điểm khảo sát tại 03 xã Nhất Hòa, Vũ Lăng và Chiến Thắng trong khung thời gian từ năm 2016 đến năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương tái cơ cấu nguồn tài chính, giảm bớt tỷ lệ phụ thuộc ngân sách nhà nước từ mức 61,6% xuống ngưỡng bền vững, tạo động lực giúp ít nhất 06 xã tiếp theo cán đích nông thôn mới theo đúng lộ trình.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Lý thuyết Tích lũy vốn của Harrod-Domar và Mô hình tăng trưởng Tân cổ điển Solow-Swan, xác định vốn đầu tư là biến số độc lập trọng yếu quyết định tốc độ hiện đại hóa kết cấu hạ tầng nông thôn. Đồng thời, đề tài kết hợp Lý thuyết Quản trị công mới cùng phương pháp Tiếp cận phát triển có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Rural Appraisal - PRA), nhấn mạnh tính tự chủ và vai trò trung tâm của người dân nông thôn trong việc đóng góp nguồn lực xã hội hóa.

Khung lý thuyết của luận văn vận hành dựa trên 04 khái niệm trọng tâm:

  • Vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới: Toàn bộ nguồn lực tài chính, vật chất và lao động quy đổi được huy động để hoàn thiện 19 tiêu chí quốc gia.
  • Cơ cấu nguồn vốn 4 thành phần: Phân định ranh giới và vai trò giữa vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng thương mại và ưu đãi, vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp tư nhân, cùng vốn đóng góp tự nguyện từ cộng đồng dân cư.
  • Phương thức huy động vốn: Phân loại cơ chế huy động trực tiếp qua công trái, trái phiếu, xã hội hóa và cơ chế huy động gián tiếp thông qua các tổ chức tài chính trung gian như Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), Ngân hàng Chính sách Xã hội.
  • Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới: Chuẩn hóa 5 nhóm tiêu chí với 19 chỉ tiêu cụ thể theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg, bao gồm quy hoạch, hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội - môi trường, và hệ thống chính trị.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các báo cáo tài chính định kỳ giai đoạn 2014 - 2018 của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn và Niên giám thống kê huyện năm 2017 với quy mô dân số 69.274 người (khu vực nông thôn chiếm 93,5%, tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 69,28%). Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát với cỡ mẫu 180 đối tượng, bao gồm 30 cán bộ quản lý cấp xã, thôn và 150 hộ gia đình.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu theo cụm tại 03 xã đại diện cho các mức độ phát triển kinh tế: xã Vũ Lăng (đã về đích nông thôn mới), xã Nhất Hòa (xã trung bình) và xã Chiến Thắng (xã đặc biệt khó khăn vùng ATK). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện thống kê cao cho địa bàn miền núi có địa hình cacxtơ chia cắt phức tạp. Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng %, so sánh chuỗi thời gian và phương pháp đánh giá có sự tham gia, được xử lý khoa học trên phần mềm Microsoft Excel để xác định mức đóng góp trung bình và độ lệch chuẩn nguồn lực tại từng địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu vốn huy động thực tế giai đoạn 2016 - 2018 tại huyện Bắc Sơn có sự mất cân đối nghiêm trọng. Vốn ngân sách nhà nước chiếm tỷ trọng chi phối lên tới 61,6% (tương đương 734.593,1 triệu đồng theo nhu cầu kế hoạch), trong khi nguồn vốn thu hút từ các doanh nghiệp chỉ đạt 95.130,8 triệu đồng (chiếm 7,98%) và nguồn vốn đóng góp của cộng đồng dân cư đạt 116.110,2 triệu đồng (chiếm 9,73%).

Thứ hai, mức độ tham gia đóng góp của người dân chủ yếu tập trung vào hiện vật và ngày công thay vì tiền mặt. Khảo sát 150 hộ dân tại 03 xã điểm cho thấy 100% hộ nắm được chủ trương xây dựng nông thôn mới, nhưng chỉ có 26,7% số hộ có khả năng đóng góp tiền mặt trên 500.000 đồng/hộ/năm. Ngược lại, người dân đã tự nguyện hiến trên 15.000 m2 đất sản xuất và đóng góp hơn 8.000 ngày công lao động, giúp giảm chi phí đầu tư giải phóng mặt bằng hàng chục tỷ đồng.

Thứ ba, phân bổ nguồn vốn đầu tư bị lệch mạnh về nhóm hạ tầng kỹ thuật cứng. Hơn 74,5% tổng nguồn lực huy động trong 03 năm được tập trung cho 1.110,2 km đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa kênh mương thủy lợi và xây dựng trường học, trong khi nguồn vốn dành cho tiêu chí phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị chỉ chiếm 12,8%.

Thứ tư, nguồn vốn tín dụng chính sách phát huy vai trò cứu cánh cho sinh kế hộ nghèo với doanh số huy động đạt 234.709,6 triệu đồng (chiếm 19,68% tổng nhu cầu). Dù vậy, hạn mức vay bình quân trên một hộ nông dân còn thấp (dưới 50 triệu đồng/hộ), hạn chế khả năng đầu tư vào các dự án trang trại quy mô lớn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn vốn ngoài ngân sách tại Bắc Sơn đạt thấp là do xuất phát điểm kinh tế miền núi thuần nông, với 09 xã khu vực III và 87 thôn đặc biệt khó khăn. Thu nhập bình quân đầu người vùng nông thôn chỉ dao động ở mức 22 - 24 triệu đồng/người/năm, khiến tỷ lệ tích lũy của dân cư rất thấp. Hơn nữa, địa hình núi đá vôi hiểm trở chiếm trên 55% diện tích tự nhiên cùng hệ thống lưới điện còn 8,07% số hộ chưa được tiếp cận điện lưới quốc gia vào năm 2017 là rào cản lớn khiến các doanh nghiệp ngần ngại bỏ vốn đầu tư trực tiếp.

Khi trình bày các phát hiện này qua biểu đồ tròn về cơ cấu vốn, sự chênh lệch thể hiện rõ nét qua lát cắt ngân sách chiếm hơn 6/10 dung lượng tài chính, đối lập hoàn toàn với lát cắt mỏng manh dưới 8% của khu vực doanh nghiệp. Trên bảng ma trận đối chiếu 03 xã nghiên cứu, giá trị đóng góp bình quân tại xã đạt chuẩn Vũ Lăng đạt 1,85 triệu đồng/hộ/năm, cao gấp 2,46 lần so với xã khó khăn Chiến Thắng (chỉ đạt 750.000 đồng/hộ/năm).

So sánh với các địa phương lân cận, bài học kinh nghiệm từ huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang) với cơ chế chính quyền đứng ra mua chịu vật liệu trả chậm huy động được hơn 102 tỷ đồng sức dân, hay huyện Hà Quảng (tỉnh Cao Bằng) lồng ghép thành công 36.411 triệu đồng vốn chương trình để cứng hóa 109,3 km đường giao thông, khẳng định rằng Bắc Sơn cần chuyển mạnh từ cơ chế "Nhà nước và nhân dân cùng làm" sang phương châm "Nhân dân làm, Nhà nước hỗ trợ" để kích hoạt tối đa nội lực cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân huyện Bắc Sơn cần chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lạng Sơn thực hiện lồng ghép triệt để các nguồn vốn từ Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững và nguồn Trái phiếu Chính phủ. Mục tiêu giải ngân đạt tối thiểu 450 tỷ đồng vốn lồng ghép trong giai đoạn 2019 - 2020, ưu tiên phân bổ 65% kinh phí cho 06 xã trong lộ trình đạt chuẩn nông thôn mới.

Thứ hai, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện triển khai đồng bộ các cơ chế ưu đãi theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP về thu hút đầu tư doanh nghiệp vào nông nghiệp. Đặt mục tiêu thu hút từ 12 đến 15 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị cây ăn quả và dược liệu đặc sản, nâng tỷ trọng vốn tư nhân lên mức 12 - 15% tổng cơ cấu vốn toàn huyện trước năm 2020.

Thứ ba, các chi nhánh ngân hàng thương mại và Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Bắc Sơn cần mở rộng hạn mức cấp tín dụng trung và dài hạn lên mức 70 - 100 triệu đồng/hộ gia đình, duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng nông nghiệp đạt từ 12% đến 15%/năm, phấn đấu đạt doanh số cho vay vượt mốc 120 tỷ đồng mỗi năm.

Thứ tư, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban nhân dân các xã cần đẩy mạnh quy chế dân chủ cơ sở theo cơ chế "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng". Nâng tổng giá trị đóng góp bằng ngày công, tiền mặt và đất hiến từ cộng đồng đạt trên 150 tỷ đồng đến cuối năm 2020, đảm bảo 100% công trình cơ sở hạ tầng thôn bản có sự giám sát độc lập của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Phát triển nông thôn, UBND các huyện miền núi có thể sử dụng công trình làm tài liệu tham khảo thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ vốn đầu tư công và thiết kế chính sách lồng ghép nguồn vốn tại các địa bàn có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số trên 80%.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Phát triển nông thôn có thể kế thừa khung phân tích lý thuyết, bộ công cụ khảo sát 180 bảng hỏi và phương pháp đánh giá định lượng về kinh tế hộ để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tài chính nông thôn.

Nhóm ban chỉ đạo nông thôn mới cấp xã, bí thư chi bộ, trưởng thôn, bản tại các địa bàn miền núi có thể học hỏi các mô hình thực tiễn trong công tác vận động nhân dân hiến đất, quy đổi ngày công lao động và tổ chức quản lý thu chi minh bạch cho các công trình hạ tầng giao thông 1.110,2 km của địa phương.

Nhóm giám đốc doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp và nhà đầu tư tư nhân có thể nắm bắt bức tranh toàn cảnh về nhu cầu thị trường, tiềm năng đất đai (chiếm 57,1% diện tích đất nông nghiệp) để xây dựng phương án liên kết sản xuất bao tiêu nông sản và khai thác các gói hỗ trợ sau đầu tư từ ngân sách.

Câu hỏi thường gặp

Nhu cầu vốn và cơ cấu huy động xây dựng nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn giai đoạn 2016 - 2020 như thế nào? Tổng nhu cầu vốn của huyện là 1.192.443,7 triệu đồng, cơ cấu gồm: ngân sách nhà nước hỗ trợ 734.593,1 triệu đồng (chiếm 61,6%), vốn tín dụng 234.709,6 triệu đồng (19,7%), nhân dân đóng góp 116.110,2 triệu đồng (9,7%), doanh nghiệp đầu tư 95.130,8 triệu đồng (8,0%) và vốn tài trợ khác 11.900 triệu đồng (1,0%).

Nguyên nhân chính khiến việc huy động tiền mặt từ người dân tại huyện Bắc Sơn gặp khó khăn là gì? Huyện Bắc Sơn có 69,28% lao động làm nông nghiệp, 09 xã khu vực III và 87 thôn đặc biệt khó khăn với thu nhập bình quân chỉ 22 - 24 triệu đồng/năm. Do đó, người dân khó đóng góp tiền mặt lớn mà chủ yếu tham gia bằng hiến hơn 15.000 m2 đất và hàng nghìn ngày công lao động.

Bài học kinh nghiệm tiêu biểu nào từ các địa phương khác có thể áp dụng cho Bắc Sơn? Bài học cốt lõi là mô hình mua chịu nguyên vật liệu trả chậm của huyện Sơn Động (huy động hơn 102 tỷ đồng sức dân) và phương thức lồng ghép 36.411 triệu đồng vốn từ Chương trình 135 của huyện Hà Quảng để cứng hóa 109,3 km đường bê tông nông thôn.

Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới tại huyện Bắc Sơn đạt bao nhiêu tính đến năm 2018? Đến hết năm 2018, huyện Bắc Sơn mới chỉ có 5 trên tổng số 19 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 26,32%. Còn lại 14 xã chưa đạt chuẩn do thiếu hụt nguồn lực đầu tư cho hạ tầng giao thông, thủy lợi và cơ sở vật chất văn hóa.

Giải pháp nào giúp tạo đột phá trong thu hút nguồn vốn doanh nghiệp vào nông nghiệp địa phương? Giải pháp đột phá là thực thi ưu đãi tiền thuê đất theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, hỗ trợ lãi suất tín dụng sau đầu tư và hoàn thiện hạ tầng lưới điện (khắc phục tỷ lệ 8,07% số hộ thiếu điện năm 2017) để thu hút tối thiểu 15 doanh nghiệp chế biến nông lâm sản.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động nguồn lực tài chính cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại một huyện miền núi đặc thù có 12 xã vùng An toàn khu.
  • Đánh giá thực chứng giai đoạn 2016 - 2018, chỉ rõ sự mất cân đối khi ngân sách nhà nước gánh vác tới 61,6% nhu cầu vốn (734.593,1 triệu đồng) và tiến độ đạt chuẩn mới đạt 5/19 xã (26,32%).
  • Nhận diện các rào cản then chốt về địa hình cacxtơ chia cắt, hệ thống hạ tầng giao thông 1.110,2 km chưa đồng bộ và tỷ lệ 69,28% lao động nông nghiệp có thu nhập thấp.
  • Đề xuất 04 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm lồng ghép 450 tỷ đồng vốn công, thu hút 15 doanh nghiệp đầu tư chuỗi giá trị và mở rộng hạn mức tín dụng ngân hàng lên 70 - 100 triệu đồng/hộ.
  • Xác định lộ trình đến năm 2020 giúp huyện Bắc Sơn huy động thành công hơn 1.192 tỷ đồng để đưa thêm 06 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới; kêu gọi các nhà hoạch định chính sách và nhà khoa học tiếp tục ứng dụng bộ dữ liệu thực nghiệm của công trình vào quản lý kinh tế địa phương.