Chương 1: Cơ sở lý luận về Đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng Thuong mai, Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Ngân hàng thương mại cỗ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chỉ nhánh Kiên Giang, Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực tại Ngân hàng thương mại cô phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Chi nhánh Kiên Giang. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE CONG TAC DAO TAO NGUO! NHAN LUC TRONG NGAN HANG THUONG MAI Nội dung chương | sé thao luận về cơ sở lý thuyết liên quan đến công, tác đảo tạo nguồn nhân lực một cách cô đọng với 4 nội dung. Trong đó, tác giả sẽ trình bày khá chỉ tiết về tiến trình đào tạo nguồn nhân lực đồng thời phân tích các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài tác động đến công tác đào tạo trước khi liên hệ đến các tiêu chí đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực. Khái quát về Ngân hàng Thương mại 1.
Khái niệm Ngân hàng Thương mại Hoạt động của NHTM đa dạng, phức tạp và luôn thay đổi để bắt kịp sự thay đổi của nền kinh tế. Mỗi một nền kinh tế có một đặc thù riêng, tập quán và luật pháp ở mỗi Quốc gia một khác nên đã nảy sinh nhiều quan niệm nhiều. định nghĩa khác nhau về Ngân hàng. Luật TCTD Việt Nam ghi rõ : “Ngân hàng là một loại hình TCTD được phép thực hiện toàn bộ các hoạt động khác có liên quan”.
Trong khái niệm này, hoạt động Ngân hàng được giải thích tại Luật NHNN “là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Dù có được xem xét định nghĩa như thế nào thì tập trung lại có thể nói NHTM là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện 3 nghiệp vụ cơ bản là: nhận tiền gửi; cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng, Trong cơ chế thị trường, các Ngân hàng thương mại được xem là một doanh nghiệp nhưng là doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đều phụ thuộc vào các khách hàng. Theo tinh thần Luật các Tổ chức tín dụng (công bố ngày 26/12/1997) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng (có hiệu lực thi hành ngày 01/10/2004): Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gởi, sử dụng số tiền này để cắp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán, và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan[4] Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật|5] Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tắt cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”[3]. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng.
dịch vụ thanh toán qua tài khoản Như vậy, Ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế Mặc dù mỗi quốc gia có một tiếp cận khác nhau để đi đến một khái niệm về Ngân hàng thương mại theo mục đích của họ, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả xác định khái niệm về Ngân hàng thương mại theo luật có liên quan mới nhất hiện nay là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 của Việt Nam. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHTM Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt. Nét đặc biệt của Ngân hàng Thương mại được thể hiện ở các nội dung sau: Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là lĩnh vực “đặc biệt” vì trước hết nó liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Mặt khác, lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm”, nó đòi hỏi một sự thận trọng trong điều hành hoạt động ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế - xã hội. Chất liệu kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, mà tiền tệ là công cụ được nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển hoặc suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó chất liệu này được nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ Là một doanh nghiệp, nhưng nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng trong kinh doanh là vốn huy động từ bên ngoài, trong khi đó vốn riêng, của ngân hàng lại chiếm tỷ trọng rất thấp trong tông nguồn vốn kinh doanh. Trong tổng tài sản của ngân hàng, ứài sản hữu hình chiếm tỷ trọng rất thấp, mà chủ yếu là tài sản vô hình.
Nó tồn tại dưới hình thức các tài sản tài chính, chẳng hạn như các loại kỳ phiếu, cỗ phiếu, hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và các loại giấy tờ có giá trị khác. Hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự chỉ phối rất lớn bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng trung rơng. Một NHTM không thể mở rộng hoạt động kinh doanh khi ngân hàng trung ương đang áp dụng chính sách đóng băng tiền tệ, hạn chế lạm phát và ngược lại. Do đó, việc ngân hàng mở rộng.
hay thu hẹp hoạt động kinh doanh của mình đều phải chịu sự chỉ phối bởi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương. NHTM là một trung gian tín dụng, đóng vai trò một tỗ chức trung gian đứng ra tập trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, nhu cầu vốn tiêu dùng. của toàn xã hội. Như vậy, có thể nói NHTM là nhịp cầu nối liền những chủ thể thừa vốn (các cá nhân có thu nhập nhưng chưa có nhu cầu sử dụng, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế vừa tiêu thụ được sản phẩm nhưng chưa có nhu cầu nhập vật tư, hàng hóa) với các chủ thể thiếu vốn (những cá nhân phát sinh nhu cầu nhưng thu nhập lại chưa có, hay các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế đang cần nhập vật tư, nguyên liệu nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm).
Đặc điểm nhân lực của NHTM Nguồn nhân lực của NHTM là toàn bộ người lao động làm việc trong ngân hàng đó theo một cơ cấu có tính kế thừa, với nồng cót là đội ngũ nhân sự trình độ cao, làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo và có đạo đức nghề nghiệp; được tổ chức quản lý và phát triển nhằm làm tốt vai trò chủ thể trong quá trình thực thi chiến lược của NHTM, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong. từng giai đoạn Nhân lực của ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau: Trình độ chuyên môn: chủ yếu ngành tài chính kế toán, tài chính ngân hàng, các ngành thuộc khối ngành kinh tế. Trình độ ngoại ngữ: do đặc điểm giao dịch ngân hàng với khách hàng trong nước và khách hàng nước ngoài nên yêu cầu các nhân viên giao dịch ngoài khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn phải có khả năng giao tiếp bằng. Yêu cầu tiếng Anh cấp độ TOEIC; IELTS và TOEFL hoặc chứng.
chỉ quốc gia về tiếng Anh. 10 Trình độ công nghệ thông tin: Hầu hết trong quá trình thực hiện nghiệp. vụ, nhân viên ngân hàng đều sử dụng phần mềm hỗ trợ. Chính vì thế, yêu cầu trình độ công nghệ thông tin của nhân viên trong ngân hàng thương mại là phải sử dụng thành thạo và chính xác các phần mềm của hệ thống ngân hàng.
Ngoại hình: Hàng loạt các hoạt động giao dịch được diễn ra giữa nhân viên ngân hàng với khách hàng. Trong giao tiếp thương mại, ngoại hình đóng, vai trò quan trọng tạo thiện cảm từ cái nhìn đầu tiên cho đối phương. Chính vì vậy, ngoại hình là điểm cần thiết đối với nhân viên ngân hàng, đặc biệt là nhân viên bộ phận giao dịch tại quầy và nhân viên tín dụng. Ngoài những đặc điểm trên, môi trường hoạt động ngân hàng thường xuyên tiếp xúc với các doanh nghiệp và các khách hàng có trình độ cao nên nhân viên cần có những kỹ năng sau: Đối với cán bộ quản lý, cần có những kỹ năng về lãnh đạo (tầm nhìn chiến lược, ra quyết định, phán đoán và xứ lý tình huống); kỹ năng làm việc chuyên môn (lập kế hoạch, phân tích vấn đề, đánh giá tính khả thi của dự án đầu tư); kỹ năng làm việc với người khác (giao tiếp nội bộ, giao tiếp đối tác bên ngoài, đàm phán, quản lý xung độ) Đối với nhân viên nghiệp vụ, cần có những kỹ năng về chuyên môn (phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, đánh giá tính khả thi của dự án kinh doanh, tư vấn tài chính) kỹ năng làm việc với người khác (giao tiếp chuyên nghiệp, làm việc nhóm, trung thực và chính xác), "1 1.
Khái quát về Đào tạo nguồn nhân lực trong Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm nguồn nhân lực Để vận hành hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp nói chung, người lãnh đạo cần phối hợp một cách hiệu quả nguồn lực sẵn có kết hợp với những cơ hội có được. Các nguồn lực sẵn có trong một doanh nghiệp gồm. nhân lực, vật lực và tài lực.
Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người (hay còn gọi là NNL) là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng. trưởng và phát triển. Trong quan điểm marketing, nguồn nhân lực tốt sẽ tạo. nên danh tiếng của doanh nghiệp và được xem là tài sản vô hình giúp doanh nghiệp tạo sự khác biệt với các doanh nghiệp trong ngành.
Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực đang tồn tại và chỉ phối cách thức các doanh nghiệp sử dụng nguồn nhân lực của mình.