CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT 1. Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt Khái niệm: Thanh toán không dùng tiền mặt là cách thức thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán [7] Sự ra đời của thanh toán không dùng tiền mặt Lịch sử ra đời, sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng đồng thời gắn liền với sự ra đời và phát triển của tiền tệ. Từ thời cổ xưa, các kim loại quý như vàng, bạc được coi là một phương tiện trao đổi trong xã hội trừ xã hội sơ khai nhất.
Vấn đề đặt ra với một hệ thống hoàn toàn dựa vào kim loại quý thì việc vận chuyển từ nơi này đến nơi khác rất khó khăn. Sự phát triển tiếp theo của hệ thống thanh toán là đồng tiền giấy, ưu điểm của nó so với tiền kim loại là gọn nhẹ dễ dàng mang theo nhưng khi công nghệ in ấn tiền phát triển tiên tiến thì tệ nạn in tiền giả cũng phát triển theo; chi phí in tiền, vận chuyển và bảo quản rất tốn kém. Mặt khác cả hai loại tiền này đều thể hiện một số hạn chế đó là dễ bị lấy cắp, chi phí về thời gian vận chuyển và bảo quản, chi phí về in ấn cao. Để khắc phục khó khăn này một bước tiến mới của hệ thống thanh toán đã xuất hiện với hoạt động ngân hàng hiện đại- thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng ban đầu chỉ là thu nhận giữ hộ tiền, kim loại quý cho khách hàng. Theo quy luật của thị trường, nền kinh tế hàng hóa luôn vận động và phát triển không ngừng, ngân hàng phát triển thêm một số nghiệp vụ 5 như việc thanh toán cho khách hàng gửi tiền tại một ngân hàng khi có nhu cầu chi trả lẫn nhau. Khi sản xuất và lưu thông ở mức thấp, quá trình mua bán diễn ra trong phạm vi hẹp thì người ta thanh toán với nhau bằng tiền mặt, sự vận động của tiền hàng hóa gắn liền với sự vận động của khối lượng tiền tệ nhất định. Lúc này thanh toán bằng tiền mặt đã tỏ ra sự linh hoạt của nó.
Quá trình thanh toán không gặp phải một trở ngại nào. Nhưng theo quy luật của sự phát triển Kinh tế- Xã hội, các hoạt động thương mại không chỉ bó hẹp trong phạm vi một lãnh thổ, quốc gia mà xuyên khắp các quốc gia trên thế giới với một lượng hàng hóa khổng lồ, nhiều chủng loại, đa dạng và phong phú. Lúc này thanh toán bằng tiền mặt đã nảy sinh hàng loạt những vấn đề liên quan đến công việc thanh toán như thời gian, chi phí, vận chuyển. Đến lúc này, hệ thống thanh toán hiện đại qua ngân hàng hay còn gọi là thanh toán không dùng tiền mặt phần nào đã giải quyết được những bất lợi của thanh toán bằng tiền mặt nói trên.
TTKDTM đem lại các lợi ích như: không phải mất thời gian vào in tiền, vận chuyển và bảo quản tiền mà thay vào đó chỉ việc trích chuyển vốn từ tài khoản đơn vị này sang tài khoản đơn vị khác, hoặc thanh toán bù trừ lẫn nhau giữa các tổ chức và đơn vị. Để thực hiện được quá trình này phải có ít nhất 3 chủ thể tham gia là bên mua, bên bán và ngân hàng đóng vai trò là trung gian tài chính với chức năng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Các NHTM hoàn toàn có khả năng tổ chức các hình thức TTKDTM thích hợp để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, góp phần lớn thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, ổn định giá cả, đẩy lùi lạm phát, đẩy nhanh lưu thông hàng hóa, tăng thu nhập quốc dân. Vì NHTM có tính ưu việt như vậy nên ngày càng được nhiều khách hàng tin tưởng lựa chọn cho công việc thanh toán, bởi vậy TTKDTM ngày càng được khách hàng ưa chuộng, không ngừng phát triển và đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
6 Do đó, TTKDTM ra đời là một tất yếu khách quan của lịch sử loài người. Đặc điểm của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt Thứ nhất, sự vận động của tiền tệ độc lập so với sự vận động của vật tư hàng hóa cả về thời gian và không gian, thông thường sự vận động của tiền trong thanh toán và sự vận động của vật tư hàng hóa là không có sự ăn khớp với nhau. Thứ hai, trong TTKDTM qua ngân hàng, vật môi giới (tiền mặt) không xuất hiện như trong thanh toán bằng tiền mặt mà nó chỉ xuất hiện dưới hình thức tiền tệ kế toán (tiền ghi sổ) và được ghi chép trên các chứng từ, sổ sách kế toán (gọi là tiền chuyển khoản) Đây là đặc điểm nổi bật, đặc điểm riêng của TTKDTM qua ngân hàng. Với đặc điểm này thì mỗi bên tham gia thanh toán (mà chủ yếu là người mua) nhất định phải mở tài khoản tại ngân hàng và phải có tiền trong tài khoản đó.
Bởi vì, nếu không như vậy thì việc thanh toán sẽ không thể tiến hành. Ngoài ra, do phải mở tài khoản tại ngân hàng nên vấn đề kiểm soát của ngân hàng trong việc tổ chức thanh toán là hình thức cần thiết. Kiểm soát tính chính xác của nội dung thanh toán, kiểm soát tính hợp pháp của chứng từ. Thứ ba, trong TTKDTM qua ngân hàng, vai trò của ngân hàng là rất quan trọng- vai trò của người tổ chức và thực hiện các khoản thanh toán, kể cả NHTW và NHTM đều có vai trò to lớn trong việc phát triển hệ thống thanh toán của một quốc gia.
Ngoài hai hoặc nhiều đơn vị mua bán tham gia trong thanh toán thì ngân hàng được xem như người “thứ ba” không thể thiếu được trong quá trình thanh toán chuyển khoản. Bởi vì, chỉ có ngân hàng- người quản lý tài khoản tiền gửi của các đơn vị mới được phép trích chuyển tài khoản của các đơn vị coi như một loại nghiệp vụ đặc biệt của ngân hàng. Với nghiệp vụ đặc biệt như vậy, ngân hàng trở thành một “phòng thanh toán” cho xã hội- trong trường hợp đó 7 có thể nói toàn bộ quá trình thanh toán được thực hiện thuận lợi trôi chảy hay không được quyết định bởi người thực hiện, mà trong đó ngân hàng là người đóng vai trò “kết thúc” quá trình thanh toán. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế 1.
Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt đối với ngân hàng thương mại Ngân hàng được quản lý nguồn vốn trong thời gian thanh toán nên TTKDTM phát triển có thể giúp ngân hàng tăng cường nguồn vốn huy động giá rẻ. Ngoài ra trong khi thực hiện hoạt động thanh toán cho khách hàng, ngân hàng có điều kiện khai thác được thông tin của khách hàng và kiểm soát việc sử dụng vốn vay của khách hàng đối với hoạt động tín dụng [7] 1. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt đối với nền kinh tế Do thanh toán không dùng tiền mặt được thực hiện chủ yếu bằng chuyển khoản nên đã tiết kiệm được rất nhiều chi phí phát hành cũng như lưu thông tiền mặt, tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế và khi thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, nhà quản lý có căn cứ để hoạch định và thực thi các chính sách tiền tệ [7] 1. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt đối vói người tiêu dùng Đối với khách hàng: Thanh toán qua ngân hàng mang đến một phương tiện thanh toán an toàn bởi khi khách hàng giao dịch với khối lượng hàng hóa lớn thì việc thanh toán bằng tiền mặt sẽ gây bất tiện cho cả người chi trả và thụ hưởng như khối lượng tiền tệ lớn, chi phí và thời gian kiểm đếm, bảo quản, quá trình vận chuyển rủi ro.
do đó với một tài khoản ngân hàng không những giao dịch được thực hiện nhanh chóng thuận tiện mà khách hàng còn có thể quản lý kiểm soát dòng tiền của mình một cách đơn giản và được hưởng lãi không kì hạn trên tài khoản của mình. Khi mà hệ thống hạ tầng viễn thông phát triển thì khách hàng có thể giao dịch qua Internet, Mobile. mà 8 không cần phải đến cửa hàng, siêu thị. Quá trình thanh toán chỉ cần thực hiện qua hệ thống thanh toán điện tử.
Như vậy, thanh toán qua ngân hàng giúp đẩy nhanh tốc độc chu chuyển vốn, đẩy mạnh tốc độ tiêu dùng. CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 1. Séc Khái niệm: Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng [11] Các chủ thể tham gia thanh toán Séc • Người ký phát: Là người lập và ký phát hành Séc. • Người bị ký phát: Là ngân hàng hay tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có trách nhiệm thanh toán số tiền ghi trên séc theo lệnh của người ký phát.
• Người thụ hưởng: Là người cầm tờ séc mà tờ séc đó có ghi tên người được trả tiền là chính mình hoặc ghi cụm từ “Trả cho người cầm séc”; hoặc đã được chuyển nhượng bằng ký hậu cho mình thông qua dãy chứ ký chuyển nhượng liên tục. Hiện nay thanh toán séc qua ngân hàng thông dụng nhất là hai loại “séc chuyển khoản” và “séc bảo chi” Séc chuyển khoản [8] là lệnh trả tiền của người phát hành séc đối với ngân hàng về việc trích nộp một khoản tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ở trên séc. Séc chuyển khoản không được phép lĩnh tiền mặt. Chỉ được thanh toán trong phạm vi giữa khách hàng có tài khoản ở cùng một chi nhánh ngân hàng hoặc khác chi nhánh ngân hàng nhưng các chi nhánh này có tham gia thanh toán bù trừ trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Thời gian hiệu lực của mỗi tờ séc là 9 15 ngày kể từ ngày ký phát đến ngày nộp vào ngân hàng. Người phát hành séc phải ghi đầy đủ các yếu tố quy định trên tờ séc. Người thụ hưởng khi nhận séc phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của tờ séc.