Giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính

Tổng hợp lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính. Tài liệu tham khảo hữu ích.

Chuyên ngành

Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2008

147
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP

1.1. Tổng quan về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán

1.1.1. Định nghĩa về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán

1.1.2. Phân loại rủi ro trong kiểm toán

1.1.2.1. Rủi ro kinh doanh
1.1.2.2. Rủi ro kiểm toán
1.1.2.2.1. Nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán
1.1.2.2.2. Các bộ phận của rủi ro kiểm toán
1.1.2.2.3. Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán
1.1.2.2.4. Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán, mức trọng yếu và bằng chứng kiểm toán

1.2. Tổng quan về đánh giá rủi ro và tiếp cận theo rủi ro

1.2.1. Khái niệm về đánh giá rủi ro

1.2.2. Sự cần thiết của việc đánh giá rủi ro

1.2.3. Ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro

1.3. Đánh giá rủi ro kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế

1.3.1. Lịch sử phát triển về đánh giá rủi ro theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế

1.3.2. Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành liên quan đến đánh giá rủi ro

1.3.2.1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính
1.3.2.2. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 240 - Gian lận và sai sót
1.3.2.3. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu
1.3.2.4. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 330 - Thủ tục của kiểm toán viên trong việc đối phó với những rủi ro đã lường trước

1.4. Kinh nghiệm đánh giá rủi ro trong kiểm toán tại Hoa Kỳ

1.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.5.1. Cần cập nhật các chuẩn mực kiểm toán nói chung và chuẩn mực về đánh giá rủi ro nói riêng

1.5.2. Cần áp dụng mô hình rủi ro kinh doanh trong việc tiếp cận và đánh giá rủi ro

1.5.3. Cần có hướng dẫn chi tiết về đánh giá rủi ro

1.5.4. Cần hồ sơ hóa quá trình đánh giá rủi ro

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY KIỂM TOÁN Ở VIỆT NAM

2.1. Lịch sử về quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán độc lập ở Việt Nam

2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của kiểm toán độc lập ở Việt Nam

2.1.2. Đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp

2.1.3. Tình hình hoạt động của các công ty kiểm toán

2.1.4. Các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập

2.1.5. Những thành công và tồn tại của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam

2.2. Thực trạng các quy định hiện hành liên quan đến đánh giá rủi ro

2.2.1. Các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam liên quan đến đánh giá rủi ro

2.2.2. Đánh giá về thực trạng các quy định liên quan đến đánh giá rủi ro

2.2.2.1. Nhược điểm

2.3. Thực trạng đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại các công ty kiểm toán ở Việt Nam hiện nay

2.3.1. Mục đích khảo sát

2.3.2. Phương pháp và đối tượng khảo sát

2.3.3. Kết quả khảo sát

2.3.3.1. Tại các công ty kiểm toán quốc tế
2.3.3.1.1. Tình hình chung
2.3.3.1.2. Quy trình đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán quốc tế
2.3.3.1.3. Đánh giá chung quy trình đánh giá rủi ro trong các công ty kiểm toán quốc tế
2.3.3.2. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là doanh nghiệp nhà nước (thuộc Bộ Tài chính & Sở Tài chính)
2.3.3.2.1. Tình hình chung
2.3.3.2.2. Quy trình đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là doanh nghiệp nhà nước
2.3.3.2.3. Đánh giá chung quy trình đánh giá rủi ro trong các công ty kiểm toán Việt Nam tiền thân là doanh nghiệp nhà nước (thuộc Bộ Tài chính & Sở Tài chính)
2.3.3.3. Tại các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ
2.3.3.3.1. Tình hình chung
2.3.3.3.2. Quy trình đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ
2.3.3.3.3. Đánh giá chung quy trình đánh giá rủi ro trong các công ty kiểm toán Việt Nam có quy mô nhỏ

2.4. Đánh giá chung việc thực hiện đánh giá rủi ro trong các công ty kiểm toán tại Việt Nam

2.4.1. Các công ty kiểm toán chưa nhận thức đầy đủ vai trò đánh giá rủi ro trong kiểm toán

2.4.2. Công tác đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán Việt Nam còn mang tính chủ quan

2.4.3. Việc thực hiện đánh giá rủi ro chưa đồng đều ở các công ty kiểm toán

2.4.4. Các công ty kiểm toán Việt Nam chưa quan tâm đến rủi ro kinh doanh khi tiến hành đánh giá rủi ro

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

3.1. Giải pháp về phía Nhà nước

3.1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kế toán - kiểm toán

3.1.2. Đôn đốc, kiểm tra công tác cập nhật, hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, đặc biệt là các chuẩn mực liên quan đến đánh giá rủi ro để phù hợp với thông lệ kiểm toán quốc tế và phù hợp sự thay đổi của nền kinh tế

3.1.3. Ban hành các thông tư hướng dẫn chi tiết chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

3.1.4. Tiếp tục chuyển giao thêm một số hoạt động cho Hội kiểm toán viên hành nghề

3.2. Giải pháp về phía Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)

3.2.1. Tiếp tục thực hiện kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán theo quy định mới

3.2.2. Xây dựng chương trình kiểm toán mẫu hỗ trợ cho các công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán thuộc loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ

3.2.3. Nghiên cứu, soạn thảo và cập nhật Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, trong đó có các chuẩn mực liên quan đến đánh giá rủi ro

3.2.3.1. Xây dựng và ban hành chuẩn mực kiểm toán VSA 315 - Hiểu biết về tình hình kinh doanh, môi trường hoạt động đơn vị và đánh giá rủi ro các sai sót trọng yếu
3.2.3.2. Hiệu đính chuẩn mực VSA 200 - Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính và VSA 240 - Gian lận và sai sót

3.2.4. Ban hành các hướng dẫn cụ thể liên quan đến đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính

3.3. Giải pháp về phía các công ty kiểm toán

3.3.1. Tăng cường đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho kiểm toán viên và nhân viên

3.3.2. Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng

3.3.3. Quy định bằng văn bản hướng dẫn về công tác đánh giá rủi ro trong quy trình kiểm toán và tăng cường kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của Đánh giá Rủi ro Kiểm toán BCTC

Đánh giá rủi ro kiểm toán báo cáo tài chính là một quá trình quan trọng giúp kiểm toán viên xác định và phân tích các rủi ro có thể dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315, việc đánh giá rủi ro là nền tảng để xây dựng chiến lược kiểm toán hiệu quả và lựa chọn thủ tục kiểm toán thích hợp. Tầm quan trọng của đánh giá rủi ro nằm ở khả năng giúp kiểm toán viên tiết kiệm nguồn lực, tăng hiệu quả công tác kiểm toán, và đảm bảo chất lượng ý kiến kiểm toán. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam phát triển, việc áp dụng đúng quy trình đánh giá rủi ro theo tiêu chuẩn quốc tế là yêu cầu cấp thiết để nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính.

1.1. Định nghĩa và phân loại Rủi ro Kiểm toán

Rủi ro kiểm toán bao gồm ba thành phần chính: rủi ro vốn có, rủi ro kiểm soátrủi ro phát hiện. Rủi ro vốn có là khả năng các sai sót xảy ra ở một lĩnh vực kinh doanh mà không xét đến biện pháp kiểm soát nội bộ. Rủi ro kiểm soát liên quan đến hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Rủi ro phát hiện là rủi ro kiểm toán viên không phát hiện được sai sót trọng yếu. Phân loại chính xác các loại rủi ro giúp kiểm toán viên xác định mức độ tin cậy cần thiết khi thực hiện các thủ tục kiểm toán.

1.2. Mối quan hệ giữa Rủi ro Kiểm toán và Trọng yếu

Mối quan hệ giữa rủi ro kiểm toán, mức trọng yếubằng chứng kiểm toán là mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi mức trọng yếu thấp, kiểm toán viên phải giảm rủi ro kiểm toán chấp nhận được bằng cách thu thập nhiều bằng chứng kiểm toán hơn. Ngược lại, khi mức trọng yếu cao, có thể chấp nhận rủi ro kiểm toán cao hơn. Sự hiểu biết sâu sắc về mối quan hệ này giúp kiểm toán viên phân bổ nguồn lực kiểm toán một cách hợp lý và tối ưu hóa chi phí kiểm toán.

II. Phương pháp Đánh giá Rủi ro theo Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế

Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) cung cấp khung pháp lý và phương pháp tiếp cận rủi ro để kiểm toán viên đánh giá rủi ro sai sót trọng yếu một cách khoa học. ISA 315 quy định quy trình hiểu biết về tình hình kinh doanhmôi trường hoạt động của đơn vị, đây là bước đầu tiên trong đánh giá rủi ro. ISA 330 hướng dẫn kiểm toán viên lựa chọn và thực hiện các thủ tục đối phó với rủi ro đã xác định. Việc áp dụng chuẩn mực kiểm toán quốc tế giúp đảm bảo tính thống nhất và so sánh được trong công tác kiểm toán, nâng cao chất lượng kiểm toán ở các quốc gia khác nhau.

2.1. Các chuẩn mực ISA liên quan đến Đánh giá Rủi ro

ISA 200 thiết lập mục tiêu chung của kiểm toán viên và nguyên tắc chi phối kiểm toán báo cáo tài chính. ISA 240 xác định trách nhiệm kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán. ISA 315 chi tiết cách đánh giá rủi ro thông qua hiểu biết về đơn vịmôi trường kinh doanh. ISA 330 cung cấp hướng dẫn về thủ tục kiểm toán để ứng phó với các rủi ro đã xác định, bao gồm test kiểm soáttest tục nghĩa.

2.2. Quy trình Đánh giá Rủi ro theo tiếp cận quốc tế

Quy trình đánh giá rủi ro bắt đầu từ việc thu thập thông tin về hoạt động kinh doanh, môi trường pháp lý, và hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị. Tiếp theo là xác định rủi ro, phân tích nguyên nhânhậu quả của từng rủi ro. Cuối cùng là đánh giá mức độ rủi rolập kế hoạch đối phó. Tiếp cận này đảm bảo kiểm toán viên có cơ sở hợp lý cho ý kiến kiểm toán của mình.

III. Thực trạng Đánh giá Rủi ro tại các Công ty Kiểm toán Việt Nam

Mặc dù các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã được cập nhật, nhưng thực trạng đánh giá rủi ro tại các công ty kiểm toán Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Nhận thức về tầm quan trọng của đánh giá rủi ro chưa thống nhất, đặc biệt là ở các công ty kiểm toán quy mô nhỏ. Công tác đánh giá rủi ro vẫn mang tính chủ quan cao, chưa được tiêu chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra, việc hồ sơ hóa quá trình đánh giá rủi ro chưa được thực hiện đầy đủ. Rủi ro kinh doanh của khách hàng chưa được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình đánh giá rủi ro kiểm toán, dẫn đến kết quả đánh giá không toàn diện.

3.1. Tình hình tại các Công ty Kiểm toán Quốc tế

Các công ty kiểm toán quốc tế (Big Four) áp dụng quy trình đánh giá rủi ro một cách có hệ thốngchuẩn hóa. Họ sử dụng phần mềm kiểm toán chuyên dụng để đánh giá rủi ro, lập hồ sơ kiểm toánquản lý bằng chứng kiểm toán. Các quy trình này được đào tạogiám sát chặt chẽ để đảm bảo chất lượng kiểm toán nhất quán. Tiếp cận rủi ro kinh doanh là trung tâm của chiến lược kiểm toán của họ.

3.2. Tình hình tại các Công ty Kiểm toán Việt Nam

Các công ty kiểm toán Việt Nam, đặc biệt là các công ty tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, áp dụng đánh giá rủi ro theo mô hình truyền thống hơn. Quy trình đánh giá rủi ro thường dựa trên kinh nghiệm cá nhân của kiểm toán viên thay vì tiêu chuẩn chuẩn hóa. Các công ty kiểm toán quy mô nhỏ thường bỏ qua hoặc giảm nhẹ bước đánh giá rủi ro, tập trung vào thực hiện test tục nghĩa. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong đánh giá rủi ro vẫn còn hạn chế.

IV. Giải pháp Hoàn thiện Đánh giá Rủi ro Kiểm toán BCTC

Để hoàn thiện đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam, cần thực hiện giải pháp toàn diện từ nhiều phía. Phía Nhà nước cần hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kiểm toán, ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết, và tiếp tục chuyển giao chức năng cho Hội kiểm toán viên hành nghề. VACPA cần xây dựng chương trình đào tạo, kiểm soát chất lượng, và hướng dẫn kiểm toán mẫu. Các công ty kiểm toán cần nâng cao nhận thức, áp dụng công nghệ, và hồ sơ hóa toàn bộ quá trình đánh giá rủi ro. Những giải pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng kiểm toánđộ tin cậy của báo cáo tài chính.

4.1. Giải pháp về phía Nhà nước và các Cơ quan Quản lý

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về kiểm toán, đôn đốc việc cập nhật chuẩn mực kiểm toán Việt Nam sao cho phù hợp với ISA. Ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về đánh giá rủi ro, rủi ro vốn có, rủi ro kiểm soát, và rủi ro phát hiện. Chuyển giao thêm hoạt động quản lý chất lượng cho VACPA để tăng tính độc lậpchuyên nghiệp trong giám sát kiểm toán viên hành nghề.

4.2. Giải pháp của VACPA và các Công ty Kiểm toán

VACPA nên xây dựng chương trình đào tạo bắt buộc về đánh giá rủi ro cho tất cả kiểm toán viên hành nghề. Phát triển hướng dẫn kiểm toán mẫu cụ thể cho từng ngành kinh tếloại hình doanh nghiệp. Các công ty kiểm toán cần áp dụng công nghệ thông tin, hồ sơ hóa quá trình đánh giá rủi ro, và áp dụng tiếp cận rủi ro kinh doanh (Business Risk Approach) trong chiến lược kiểm toán của họ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn giải pháp hoàn thiện đánh giá rủi ro trong kiểm toán báo cáo tài chính

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1.1 Tổng quan về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán 1.1 Định nghĩa về rủi ro và rủi ro trong kiểm toán Theo từ điển tiếng Việt, rủi ro là những yếu tố không chắc chắn tồn tại trong công việc mà chúng ta tiến hành. Hay nói cách khác, rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm có thể phát sinh từ một việc thực hiện nhiệm vụ hay công việc. Dù muốn hay không, hầu hết những công việc, nghề nghiệp đều chứa đựng rủi ro. Ví dụ: rủi ro phát sinh từ việc bê một tập sách nặng là bị đau lưng.

Rủi ro trong kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ về một báo cáo tài chính mà không biết rằng các báo cáo này có những sai lệch trọng yếu.2 Phân loại rủi ro trong kiểm toán Có nhiều cách để tiếp cận và phân loại rủi ro. Trong lĩnh vực kiểm toán, rủi ro thường được xem xét dưới hai hình thức chủ yếu là rủi ro kinh doanh và rủi ro kiểm toán.1 Rủi ro kinh doanh Là rủi ro xảy ra các thiệt hại về tài chính và/hoặc danh tiếng cho công ty kiểm toán do việc kinh doanh đem đến. Từ định nghĩa này có thể chia rủi ro kinh doanh thành hai loại: + Rủi ro chấp nhận khách hàng: là rủi ro xảy ra các thiệt hại về tài chính, nguy hại về danh tiếng đến công ty kiểm toán do việc chấp nhận khách hàng.

Các thiệt hại này thường đến sau những vụ kiện công ty kiểm toán từ phía khách hàng do công ty kiểm toán vi phạm hợp đồng kiểm toán, hoặc từ bên thứ ba để đòi bồi thường thiệt khoa luan, document11 of 138. tai lieu, luan van12 of 138. 5 hại do sự bất cẩn của kiểm toán viên trong việc điều hành và thực hiện cuộc kiểm toán. Ngoài ra, việc đánh giá sai khả năng cung cấp dịch vụ kiểm toán của bản thân công ty kiểm toán cũng có thể gây ra thiệt hại về mặt tài chính khi đi đến quyết định chấp nhận khách hàng.

Rủi ro chấp nhận khách hàng thường do khách hàng thiếu liêm chính, khách hàng có các hành vi gian lận, không tuân thủ. Nguyên nhân gây ra loại rủi ro này chủ yếu do công ty kiểm toán đánh giá không chính xác về khách hàng khi quyết định chấp nhận thiết lập hay duy trì mối quan hệ với khách hàng. Một nguyên nhân khác đó là do công ty kiểm toán đánh giá không chính xác về khả năng thực hiện dịch vụ kiểm toán của mình dẫn đến phá vỡ hợp đồng kiểm toán. + Rủi ro không chấp nhận khách hàng: là rủi ro đánh giá sai về khách hàng dẫn đến việc từ chối ký hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán và mất đi cơ hội kinh doanh.

Đây là trường hợp trái ngược với loại rủi ro ở trên. Trong điều kiện thị trường kiểm toán chịu sự cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, việc mất đi một khách hàng là hết sức đáng tiếc vì có thể ảnh hưởng đến mục tiêu đạt lợi nhuận mong muốn của công ty kiểm toán. Trong phạm vi của đề tài, ngoài khái niệm rủi ro kinh doanh của công ty kiểm toán như đã nêu trên, đề tài còn sử dụng khái niệm rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp được kiểm toán. Rủi ro kinh doanh của một doanh nghiệp là “Rủi ro mà mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp không đạt được do các nhân tố, các sức ép bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, xét cho cùng, đó là các rủi ro liên quan đến khả năng tạo ra lợi nhuận và khả năng sống còn của doanh nghiệp” 1.2 Rủi ro kiểm toán 1.1 Định nghĩa 1 Bell, T.

(1997), Auditing Organizations Through a Strategic- Systems Lens: The KPMG Business Measurement Process, KPMG, New York. khoa luan, document12 of 138. tai lieu, luan van13 of 138. 6 Theo VSA 400/ISA 400: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu”.2 Nguyên nhân gây ra rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán gắn liền với các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính.

Các nguyên nhân dẫn đến báo cáo tài chính bị trình bày sai một cách trọng yếu bao gồm: - Gian lận Theo VSA 240, đoạn 4: “Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. - Sai sót Theo VSA 240, đoạn 5: “ Sai sót là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến báo cáo tài chính”. - Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định Theo VSA 250, đoạn 7: “Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định là những hành vi thực hiện sai, bỏ sót, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời hoặc không thực hiện pháp luật và các quy định dù là vô tình hay cố ý của đơn vị, … không đề cập đến những hành vi không tuân thủ do tập thể hoặc cá nhân của đơn vị gây ra nhưng không liên quan đến báo cáo tài chính của đơn vị”. - Sự vi phạm giả thiết liên tục hoạt động Sự vi phạm giả thiết liên tục hoạt động là khả năng giả thiết liên tục hoạt động không còn đứng vững trong khoảng thời gian một năm kể từ ngày kết thúc niên độ.

Theo VAS 01, đoạn 4: Giả thiết liên tục hoạt động được hiểu là “doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình”. Khi giả thiết liên tục khoa luan, document13 of 138. tai lieu, luan van14 of 138. 7 hoạt động bị phá vỡ, căn cứ để lập báo cáo tài chính cũng thay đổi.

Do đó, nếu báo cáo tài chính vẫn được lập trên căn cứ cũ thì các sai sót nghiêm trọng sẽ xuất hiện, bao gồm những sai sót trong việc lựa chọn giữa giá gốc và giá trị có thể thực hiện được để ghi nhận tài sản, công nợ và việc phân loại tài sản, công nợ. Việc hiểu rõ các nhân tố gây ra sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính là vô cùng cần thiết trong công tác đánh giá rủi ro. Điều này giúp kiểm toán viên dễ dàng theo dõi các dấu hiệu, sự kiện, điều kiện làm gia tăng rủi ro.3 Các bộ phận của rủi ro kiểm toán Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Rủi ro tiềm tàng - Khái niệm Theo VSA 400, đoạn 4: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có hệ thống kiểm soát nội bộ”.

- Đặc điểm Rủi ro tiềm tàng xuất phát từ bản chất hoạt động kinh doanh của khách hàng, hoặc từ bản chất của các số dư và các loại nghiệp vụ. Do đó, rủi ro tiềm tàng tồn tại một cách khách quan và độc lập với những nỗ lực của kiểm toán viên trong việc làm giảm rủi ro. Kiểm toán viên chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện và đánh giá hợp lý rủi ro tiềm tàng để có những điều chỉnh thích hợp đến công việc kiểm toán. - Các nhân tố ảnh hưởng + Ở mức độ báo cáo tài chính • Tính liêm chính, kinh nghiệm và kiến thức của Ban Giám đốc cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán.

khoa luan, document14 of 138. tai lieu, luan van15 of 138. 8 • Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ (nếu có) và sự thay đổi của các nhân viên này. • Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng, nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình bày báo cáo tài chính không trung thực.

• Bản chất ngành nghề, đặc điểm hoạt động của đơn vị. • Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị: các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, thị trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị. • Quy mô của tổng thể báo cáo tài chính. + Ở mức độ từng cơ sở dẫn liệu • Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: báo cáo tài chính có những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước, báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán, hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán.

• Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế, như: số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu tài sản cố định tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá tài sản cố định, … • Mức độ dễ bị mất mát, biển thủ tài sản, như: phát sinh nhiều nghiệp vụ thu, chi tiền mặt, tạm ứng tiền với số lượng lớn, thời gian thanh toán dài, … • Mức độ phức tạp của các nghiệp vụ hay sự kiện quan trọng đòi hỏi phải có ý kiến của chuyên gia, như: xảy ra kiện tụng hoặc trộm cắp, … • Việc ghi chép các nghiệp vụ bất thường và phức tạp, đặc biệt là gần thời điểm kết thúc niên độ. • Các nghiệp vụ kinh tế, tài chính bất thường khác. khoa luan, document15 of 138. tai lieu, luan van16 of 138.

Rủi ro kiểm soát - Khái niệm Theo VSA 400, đoạn 5: “Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ