CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ NGUYÊN TẮC CỦA NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực: Nguồn lực con người là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế và xã hội. Khái niệm nguồn nhân lực có thể đưa ra dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo giáo trình Nguồn nhân lực; trường Đại học Lao động - Xã hội thì nguồn nhân lực được định nghĩa như sau: Theo nghĩa rộng: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [19].
Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Theo nghĩa hẹp: “Nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [19]. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội. Theo Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực; Trường Đại học Kinh tế Quốc dân “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[3].
Theo cách hiểu này, thì nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai. Có thể nói, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực 8 xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội.
Những khái niệm trên đây chỉ là nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Trong phạm vi doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm: Tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Khái niệm này chưa nêu rõ sức mạnh tiềm ẩn của nguồn nhân lực trong một tổ chức nếu họ được động viên, phối hợp tốt với nhau. Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Theo George T.Boudreau thì đào tạo là quá trình có hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, khái niệm hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của công nhân viên và những yêu cầu của công việc.
([5], tr375) Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Nhằm giúp người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là 9 những hoạt động học tập nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động hiệu quả hơn (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007). Theo tác giả Hà Văn Hội (2009), đào tạo được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. Đào tạo là quá trình cung cấp các kỹ năng cụ thể cho các mục tiêu cụ thể, là một quá trình hệ thống nhằm nuôi dưỡng việc tích lũy các kỹ năng, những quy tắc, hành vi hay thái độ dẫn đến sự tương xứng tốt hơn giữa những đặc điểm của nhân viên và yêu cầu của công việc. Hiểu theo cách khác: Đào tạo là những cố gắng của tổ chức được đưa ra nhằm thay đổi hành vi và thái độ để đáp ứng các yêu cầu về hiệu quả công việc, trang bị kỹ năng cơ bản cho mỗi lao động nhằm đáp ứng yêu cầu tối thiểu của tổ chức, đủ để hoàn thành tốt công việc được giao. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận một nghề nào đó, hay để làm tốt hơn một công việc nào đó, hoặc để làm những công việc khác trong tương lai.
Quá trình đào tạo sẽ làm biến đổi nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng trong cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng con người, phát triển toàn bộ trong từng bộ phận, trong cấu trúc nhân cách, phát triển cả về năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này đến trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực 1.1 Đối với xã hội Đào tạo nguồn nhân lực được xem là vấn đề sống còn của đất nước, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lại nạn thất nghiệp. Đầu tư cho đào tạo và giáo dục là khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phồn vinh của đất nước, giúp nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài đất nước. Dù cho nguồn tài nguyên rất phong phú, tiền vốn rất dồi dào, thiết bị máy móc rất hiện đại nhưng không có con người đủ sức, đủ trình độ, đủ năng lực và tâm huyết để làm việc thì đất nước đó vẫn không thể phát triển bền vững được.2 Đối với doanh nghiệp Đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể thích ứng với sự tiến bộ và phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ, đảm bảo cho doanh nghiệp có lực lượng lao động giỏi, hoàn thành thắng lợi các mục tiêu kế hoạch của doanh nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi thế giới đang dần chuyển sang một phương thức sản xuất mới, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải thích ứng tốt với môi trường kinh doanh và phải đáp ứng được yêu cầu của cạnh tranh.
Đào tạo nguồn nhân lực sẽ càng nâng cao tay nghề, nâng cao kỹ năng và công tác này còn làm cải thiện được mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới xoá bỏ được sự thiếu hiểu biết, ranh chấp, ngăn chặn sự căng thẳng, mâu thuẫn tạo ra không khí đoàn kết thân ái cùng phấn đấu phát triển. Để đạt được hiệu quả cao hơn và khả năng công tác tốt hơn. Riêng đối với ngành kinh doanh khách sạn, đào tạo nguồn nhân sự đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khách sạn vì nó góp phần đắc lực trong việc thực hiện các kế hoạch chiến lược của khách sạn, tạo ra lợi thế cạnh tranh, do có sự thay đổi liên tục của môi trường kinh doanh, đặc biệt là sự phát triển khoa học công nghệ và sự biến động nhu cầu khách hàng, việc 11 đào tạo nguồn nhân sự sẽ giúp khách sạn có sự chủ động thích ứng với sự biến động đó, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh doanh, tăng sức cạnh tranh cho khách sạn. Đào tạo nguồn nhân sự còn giúp duy trì sự ổn định về đội ngũ nhân lực trong khách sạn.
Chính vai trò lớn lao của đào tạo nguồn nhân lực mà đội ngũ nhân viên được thường xuyên thúc đẩy nâng cao trình độ quản lý, tay nghề, trình độ ngoại ngữ, cập nhật và nắm bắt kịp thời những thông tin và kiến thức mới, đảm bảo sự phát triển bền vững cho khách sạn.3 Đổi với người lao động Trong điều kiện sự phát triển của khoa học công nghệ, người lao động luôn phải nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp chuyên môn để không bị tụt hậu. Đào tạo nguồn nhân lực sẽ giúp họ nâng cao kiến thức và tay nghề giúp họ tự tin hơn làm việc có hiệu quả hơn. Phát huy khả năng, khám phá khả năng của từng người, trở nên nhanh nhẹn đáp ứng sự thay đổi của môi trường. Vì thế, người lao động phải luôn được đào tạo để có thể tiếp cận và làm chủ được công nghệ hiện đại và áp dụng chúng vào quá trình làm việc mang lại hiệu quả ngày càng cao.
Được học tập cũng tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới, làm phong phú công việc và tăng khả năng sáng tạo trong hoạt động, đó cũng chính là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc, tạo khả năng nâng cao thu nhập cho người lao động, mở rộng cơ hội nghề nghiệp và việc làm trong tương lai, từ đó tạo sự gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp. Đối với người lao động trong lĩnh vực khách sạn, đào tạo nguồn nhân lực tạo ra sự gắn bó giữa người lao động và khách sạn, góp phần tạo nên sự chuyên nghiệp và tư duy mới cho người lao động. Giúp người lao động tự tin hơn, làm chủ được phương tiện khoa học - kỹ thuật hiện đại. Đào tạo nguồn nhân lực cũng chính là một hình thức đãi ngộ với người lao động vì nó thỏa 12 mãn nhu cầu học hỏi, hoàn thiện bản thân và vươn tới đỉnh cao sự nghiệp cho người lao động, tạo điều kiện cho người lao động cống hiến và thỏa mãn nhu cầu của họ trong quá trình làm việc.4 Nguyên tắc của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực dựa trên 4 nguyên tắc sau: Thứ nhất: Con người hoàn toàn có năng lực phát triển.