ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ăn quả chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống của mỗi con người cũng như trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước. Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa ẩm đã tạo nên sự đa dạng về sinh thái, rất thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng cây ăn quả. Cam là một trong những cây ăn quả đặc sản lâu năm của Việt Nam bởi giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao. Trong thành phần thịt quả có chứa 6-12% đường, hàm lượng vitamin C từ 40-90mg/100g tươi, các axit hữu cơ 0,4-1,2% trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm, mặt khác cam có thể dùng ăn tươi, làm mứt, nước giải khát, chữa bệnh.
Huyện Gia Lâm - Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, có mùa đông lạnh và khô, ít mưa, còn mùa hè nắng nóng mưa nhiều. Phần lớn diện tích của huyện Gia Lâm không phức tạp và vùng phụ cận là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây xuống Đông Nam theo hướng chung của địa hình thành phố và cũng theo hướng của dòng chảy sông Hồng. Vùng đồng bằng có điều kiện bằng phẳng được bồi tụ phù sa của sông Hồng bề dày phù sa trung bình 90- 120cm. Từ đó huyện có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp cũng như thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như phát huy tiềm năng về điều kiện tự nhiên của địa phương. Thành phố Hà Nội nói chung và huyện Gia Lâm nói riêng trong những năm gần đây đã cải tạo, quy hoạch, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào việc chọn tạo và sản xuất giống cây đạt chất lượng và đã đưa cây cam vào phát triển kinh tế trong các hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô sản xuất cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Nhưng hiện nay một thực tế cho thấy rằng năng suất, sản lượng và chất lượng cây có múi của Việt Nam vẫn còn thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với 1 số nước trong khu vực và trên thế giới. Và nguyên nhân của tình trạng trên rất nhiều, do điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, mức đầu tư thâm canh thấp, việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật còn nhiều hạn chế.
Điều đáng chú ý nhất hiện nay là chất lượng cây ăn quả nói chung và cây có múi nói riêng đang ngày càng đi 1 xuống, dư lượng thuốc trừ sâu và hàm lượng nitrat tồn dư trong sản phẩm vượt mức cho phép rất nhiều lần nên chưa thể xuất khẩu được sang thị trường nước ngoài. Nguyên nhân của tình trạng này là do ý thức của việc sử dụng phân bón thuốc trừ sâu bừa bãi, tâm lý chạy theo lợi nhuận trước mắt trong nhân dân, sự quan liêu của các nhà quản lý. Điều này đã gây không ít tổn thất cho thị trường cây có múi của Việt Nam. Mặc dù vậy nhưng hiện nay các vùng trồng cây có múi cũng bước đầu ý thức được nguy hại của việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu đến môi trường sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng.
Các vùng trồng cây ăn quả hiện nay đã hình thành các vùng trồng cây ăn quả theo hướng an toàn. Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và một số giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả sản xuất cam vinh theo hướng hữu cơ tại Gia Lâm – Hà Nội. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC Nghiên cứu đánh giá thực trạng sản xuất cam Vinh tại Gia Lâm để tìm ra được các hạn chế nhằm tác động các biện pháp kỹ thuật giúp phát triển cam Vinh hiệu quả và bền vững. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sản xuất cam Vinh để làm cơ sở cho phát triển cam Vinh theo hướng hữu cơ tại Gia Lâm - Hà Nội.
- Đánh giá hiện trạng sản suất và kỹ thuật trồng chăm sóc cây cam Vinh tại vùng nghiên cứu để tìm ra các hạn chế của sản xuất cam Vinh. - Thử nghiệm bổ sung một số loại phân hữu cơ bón gốc, phân hữu cơ bón lá để thay thế một phần phân hóa học trong sản xuất cam Vinh tại Gia Lâm cho hiệu quả sản xuất cao. PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Việc đánh giá thực trạng được tiến hành ở 4 xã trồng nhiều cam Vinh nhất tại Gia Lâm (Cổ Bi, Kiêu Kỵ, Phù Đổng, Đặng Xá). - Thí nghiệm đồng ruộng các biện pháp kỹ thuật đều được thực hiện trên vườn cam Vinh kinh doanh 6 năm tuổi đồng đều về sinh trưởng và năng suất ổn định.
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Những đóng góp mới Xác định được lượng phân bón gốc hữu cơ Gradual 25Fe và phân bón lá thích hợp với sinh trưởng phát triển cam Vinh để cho hiệu quả và năng suất cao nhất. Ý nghĩa khoa học Góp phần xây dựng cơ sở khoa học để xác định các biện pháp trong sản xuất cam Vinh theo hướng nông nghiệp hữu cơ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm. Ý nghĩa thực tiễn Các hộ trồng cam tại Gia Lâm có thể vận dụng kết quả nghiên cứu của đề tài để thay đổi kỹ thuật sản xuất cho phù hợp theo hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ để nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần tăng thu nhập.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ 2. Khái niệm nông nghiệp hữu cơ Có rất nhiều khái niệm về nông nghiệp hữu cơ nhưng tựu chung lại cho rằng đó là một hệ thống dựa trên quản lý hệ sinh thái hơn là những đầu tư vật chất từ bên ngoài. Đó là một hệ thống bắt đầu cân nhắc ảnh hưởng đến môi trường và xã hội bằng cách hạn chế những đầu vào hóa học như phân bón thuốc trừ sâu hóa học, thuốc chữa bệnh gia súc, cây con và biến đổi gen, chất bảo quản, chất phụ gia và chất phóng xạ.
Nó được thay thế bằng các kỹ thuật quản lý đặc biệt cho từng vùng để duy trì và tăng cường độ phì lâu dài của đất và phòng chữa bệnh. Nhưng Small (1999) cho rằng: “Nếu chỉ đơn giản đứng trên quan điểm kỹ thuật mà nói nông nghiệp hữu cơ là nền sản xuất nông nghiệp không sử dụng phân bón, thuốc sâu hóa học thì sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề”, mà canh tác hữu cơ thực hiện các hoạt động nông nghiệp trên cơ sở tối thiểu hoặc loại trừ nhiều nhất các đầu vào là sản phẩm hóa học, tập trung các chương trình làm giàu dinh dưỡng đất và tạo sự bền vững môi trường lâu dài. - Còn Palaniappan and Annadurai (1999) cho rằng có các đặc trưng chủ yếu của nông nghiệp hữu cơ là: Sử dụng một cách tối đa và bền vững nguồn tài nguyên tự nhiên của địa phương. Sử dụng tối thiểu các đầu vào phải mua, chỉ khi cần bổ sung cho nguồn tài nguyên địa phương.
Đảm bảo các chức năng sinh học cơ bản của thực vật với đất - nước - dinh dưỡng - mùn. Duy trì tính đa dạng các nguồn động thực vật như cơ sở cho sự cân bằng sinh thái và bền vững kinh tế. Tạo ra tính hấp dẫn toàn bộ khu vực mà có thể thỏa mãn cho nhu cầu của dân địa phương. Tăng độ đa dạng cây trồng vật nuôi dưới hình thức các hệ thống đa canh, nông lâm kết hợp, hệ thống cây trồng vật nuôi hỗn hợp để giảm rủi ro.
Các nguyên tắc trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ Nông nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người bởi vì nó góp một phần lớn trong việc cung cấp lương thực cho nhân loại. Lịch sử, văn hóa và những giá trị xã hội đều gắn với nông nghiệp. Những nguyên tắc của Nông nghiệp hữu cơ được áp dụng cho nông nghiệp theo nghĩa rộng nhất, bao gồm cách mà con người chăm sóc đất, nước, cây trồng và vật nuôi nhằm sản xuất, chuẩn bị và phân phối thực phẩm và hàng hóa khác. Chúng quy định cách mà con người tương tác lẫn nhau thậm chí cả những đóng góp cho thế hệ tương lai.
Nguyên tắc của Nông nghiệp hữu cơ nhằm thúc đẩy sự phát triển của Nông nghiệp hữu cơ trong sự đa dạng của chúng. Chúng hướng dẫn sự phát triển của IFOAM dưới góc độ vai trò, chương trình và hệ thống tiêu chuẩn. Những nguyên tắc này là gốc rễ cho nông nghiệp hữu cơ hình thành và phát triển, thể hiện sự đóng góp của nông nghiệp hữu cơ đối với sự phát triển ngành nông nghiệp trên toàn thế giới. Nông nghiệp hữu cơ bao gồm 4 nguyên tắc sau.
Nguyên tắc về sức khỏe Nông nghiệp hữu cơ duy trì và tăng cường sức khỏe của đất, cây trồng vật nuôi, con người và coi hành tinh là một thể thống nhất và không thể tách rời. Nguyên tắc này chỉ ra rằng sức khỏe của mỗi thành viên và của cả cộng đồng không thể tách rời sức khỏe của hệ sinh thái – đất khỏe tạo ra cây trồng khỏe mạnh và thúc đẩy sức khỏe của vật nuôi và con người. Sức khỏe là tính đầy đủ và trọn vẹn của hệ thống sống. Nó không chỉ đơn giản là không có bệnh tật mà còn duy trì sự khỏe mạnh vật lý, tinh thần, xã hội và sinh thái.
Nguyên tắc về sinh thái Nông nghiệp hữu cơ dựa trên chu trình và hệ sinh thái sống, cùng làm việc, cùng thúc đẩy duy trì. Nguyên tắc này là gốc rễ của nông nghiệp hữu cơ trong hệ sinh thái. Nguyên tắc này được hiểu rằng sản xuất phải dựa trên chu trình sinh thái và sự tái sinh. Sự nuôi dưỡng và sức khỏe đạt được thông qua cân bằng sinh thái của một môi trường sản xuất đặc thù.
Theo quan điểm của nông nghiệp hữu cơ, đồng cỏ và hệ thống thu hái tự nhiên nên phù hợp với quá trình tái sinh và cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Quản lý hữu cơ cần phải phù hợp với điều kiên địa phương, sinh thái, sinh hóa và quy mô sản xuất. Nên giảm đầu vào thông qua tái sử dụng, tái sinh và quản lý có hiệu quả vật chất và năng lượng nhằm duy trì và tăng cường chất lượng môi 5 trường và bảo tồn tài nguyên. Nguyên tắc về sự công bằng Nông nghiệp hữu cơ được xây dựng dựa trên mối quan hệ đảm bảo cho sự công bằng về môi trường chung và những cơ hội sống.