Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây lương thực quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế thế giới cùng với lúa mì và lúa nước. Ngô không chỉ cung cấp lương thực trực tiếp cho con người mà còn đóng vai trò then chốt trong ngành chăn nuôi, với khoảng 66% sản lượng toàn cầu được dùng làm thức ăn gia súc. Ngoài ra, ngô là nguyên liệu cho hơn 670 mặt hàng công nghiệp chế biến như tinh bột, rượu, bánh kẹo. Giai đoạn 2006–2016, sản xuất ngô thế giới liên tục mở rộng, diện tích tăng từ 150,5 triệu ha lên 182,3 triệu ha và sản lượng tăng từ 716,5 triệu tấn lên 1.053,8 triệu tấn.
Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng ngô phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi gia tăng mạnh mẽ, chiếm khoảng 80% tổng sản lượng tiêu thụ trong nước. Dù diện tích canh tác năm 2016 đạt 1.300,0 nghìn ha với sản lượng 5.980,0 nghìn tấn, năng suất trung bình cả nước (46,0 tạ/ha) vẫn thấp hơn mức bình quân thế giới (bằng 79,3% năng suất ngô thế giới). Nguồn cung nội địa không đáp ứng đủ nhu cầu, buộc Việt Nam phải nhập khẩu khối lượng lớn ngô hạt (nhập khẩu 4,9 triệu tấn trong niên vụ 2014/2015 và 7,3 triệu tấn trong niên vụ 2015/2016).
Tại tỉnh Thái Nguyên – một tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ với địa hình đồi núi phức tạp, đất đai xói mòn và bạc màu, nguồn nước tưới tiêu khó khăn – việc sản xuất ngô chủ yếu diễn ra trên đất dốc vụ Xuân Hè và đất sau hai vụ lúa trong vụ Đông. Diện tích gieo trồng ngô của tỉnh năm 2015 đạt 21,0 nghìn ha, năng suất 41,7 tạ/ha và sản lượng đạt 87,6 nghìn tấn. Để nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích và thích ứng với điều kiện khí hậu biến đổi phức tạp, việc tuyển chọn các tổ hợp ngô lai mới có năng suất cao, sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt với điều kiện sinh thái địa phương là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích: Đánh giá và tuyển chọn tổ hợp ngô lai có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thích nghi với điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của tỉnh Thái Nguyên để đưa vào khảo nghiệm sản xuất.
- Nhiệm vụ (yêu cầu) nghiên cứu:
- Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai trong điều kiện vụ Xuân năm 2016 tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp, số lá/cây, chỉ số diện tích lá, động thái tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá) của các tổ hợp lai thí nghiệm.
- Theo dõi và đánh giá khả năng chống chịu của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm (sâu đục thân, sâu cắn râu, mức độ đổ ngã).
- So sánh, phân tích các yếu tố cấu thành năng suất và sơ bộ kết luận về khả năng thích ứng của các tổ hợp lai, từ đó chọn ra tổ hợp lai triển vọng nhất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng (vật liệu) nghiên cứu: Gồm 06 tổ hợp ngô lai mới (TA16-3, TA16-5, TA16-6, TA16-7, TA16-8, TA16-9) do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo, so sánh đối chứng với giống ngô lai thương mại NK67 của Công ty Syngenta Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Điểm thí nghiệm tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (loại đất cát pha chuyên trồng màu, cây vụ trước là ngô).
- Phạm vi thời gian: Vụ Xuân năm 2016 (gieo hạt ngày 24/02/2016, thu hoạch ngày 28/06/2016).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và tiêu chuẩn áp dụng
Nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học về hiện tượng ưu thế lai ở ngô (bắt nguồn từ các nghiên cứu kinh điển của Charles Darwin năm 1871/1877 và ứng dụng ngô lai kép của Jones năm 1918), quy luật tích lũy vật chất qua hai giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (Vegetative - V, từ nảy mầm $V_e$ đến trỗ cờ $V_t$) và sinh trưởng sinh thực (Reproductive - R, từ phun râu $R_1$ đến chín sinh lý $R_6$). Hệ thống chỉ tiêu và phương pháp theo dõi tuân thủ theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56:2011/BNNPTNT) do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành.
Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Kiểu bố trí: Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) gồm 3 lần nhắc lại.
- Quy cách ô: Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 7 m² (dài 5 m, rộng 1,4 m), xung quanh có dải bảo vệ cách ly.
- Mật độ và khoảng cách: Mật độ 5,7 vạn cây/ha, khoảng cách gieo trồng 70 cm × 25 cm × 1 cây/hốc.
Quy trình kỹ thuật canh tác
- Phân bón (tính trên 1 ha): 2 tấn phân hữu cơ vi sinh + phân vô cơ theo tỷ lệ nguyên chất $150\text{ N} : 90\text{ P}_2\text{O}_5 : 90\text{ K}_2\text{O}$, tương ứng với 326,09 kg Đạm urê, 562,5 kg Supe lân và 150,0 kg Kaliclorua.
- Bón lót: 100% phân hữu cơ vi sinh và 100% phân supe lân.
- Bón thúc lần 1: 50% lượng urê + 50% lượng kali khi cây đạt 3–5 lá, kết hợp xới xáo lần 1.
- Bón thúc lần 2: 50% lượng urê + 50% lượng kali còn lại khi cây đạt 7–9 lá, kết hợp vun gốc cao.
- Chăm sóc: Dặm tỉa định cây ở giai đoạn 1–3 lá và 3–5 lá; bảo đảm độ ẩm đất đặc biệt trong giai đoạn 10–15 ngày trước và sau trỗ cờ.
Phương pháp theo dõi chỉ tiêu và xử lý số liệu
- Chỉ tiêu sinh trưởng: Theo dõi các mốc gieo đến trỗ cờ (G-TC), gieo đến tung phấn (G-TP), gieo đến phun râu (G-PR), khoảng cách tung phấn - phun râu (TP-PR) và gieo đến chín sinh lý (G-CSL).
- Chỉ tiêu hình thái: Đo chiều cao cây (từ mặt đất đến điểm phân nhánh cờ đầu tiên), chiều cao đóng bắp (từ mặt đất đến đốt mang bắp trên cùng), tổng số lá trên thân, và chỉ số diện tích lá (CSDTL hay LAI) ở thời kỳ chín sữa:
$$\text{Diện tích lá (DTL/cây)} = \text{Chiều dài} \times \text{Chiều rộng} \times 0{,}75$$
$$\text{CSDTL (m}^2\text{ lá/m}^2\text{ đất)} = \text{DTL/cây} \times \text{Số cây/m}^2$$
- Động thái tăng trưởng và tốc độ ra lá: Theo dõi định kỳ 10 ngày/lần từ ngày thứ 20 đến ngày thứ 60 sau trồng ($t_1=20$, $t_2=30$, $t_3=40$, $t_4=50$, $t_5=60$).
- Đánh giá chống chịu sâu bệnh: Cho điểm theo thang điểm 1–5 đối với sâu đục thân (Chilo partellus) ở giai đoạn chín sáp và sâu cắn râu ở giai đoạn chín sữa (Điểm 1: <5% cây bị hại; Điểm 2: 5–<15%; Điểm 3: 15–<25%; Điểm 4: 25–<35%; Điểm 5: 35–50% cây bị hại).
- Xử lý số liệu thống kê: Tính toán phương sai (ANOVA), hệ số biến động (CV%), sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức xác suất 95% ($LSD_{0{,}05}$) bằng phần mềm chuyên dụng IRRISTAT 5.0; các số liệu hình thái và sâu bệnh được tổng hợp bằng Microsoft Excel. Độ ẩm hạt được xác định bằng máy đo điện tử Kett 400 (Nhật Bản) quy đổi về độ ẩm chuẩn 14%.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của việc tuyển chọn giống ngô lai mới phục vụ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên. Xác định rõ ràng mục đích nghiên cứu, 4 yêu cầu nhiệm vụ cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu tuyển chọn giống ngô vùng trung du, ý nghĩa học tập và ý nghĩa thực tiễn phục vụ chuyển giao giống vào sản xuất.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp toàn diện các số liệu thứ cấp về sản xuất, tiêu thụ và nghiên cứu chọn tạo giống ngô:
- Tình hình thế giới: Thống kê diện tích, năng suất, sản lượng ngô toàn cầu (2006–2016); phân tích cơ cấu sản xuất tại Bắc Mỹ (năng suất 9,67 tấn/ha), Đông Á (5,95 tấn/ha), Đông Nam Á (5,41 tấn/ha); tình hình tiêu thụ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, EU-27; lược sử chọn tạo giống ngô từ thụ phấn tự do, ngô lai đơn, lai kép đến công nghệ sinh học và ngô chuyển gen.
- Tình hình Việt Nam: Đánh giá 3 giai đoạn phát triển (1960–1980, 1981–1992, 1992 đến nay); phân tích năng suất các vùng sinh thái năm 2015 (Đông Nam Bộ đạt cao nhất với 61,7 tạ/ha; Trung du và miền núi phía Bắc thấp nhất với 36,8 tạ/ha); thống kê nhập khẩu ngô từ Brazil (744,16 nghìn tấn), Argentina (477,85 nghìn tấn), Ấn Độ (329,16 nghìn tấn).
- Tình hình tại Thái Nguyên: Số liệu sản xuất giai đoạn 2005–2015 (năng suất dao động từ 34,7 đến 43,2 tạ/ha); tổng hợp kết quả thử nghiệm các giống ngô lai trước đó tại địa bàn như LVN154 (85,56 tạ/ha), LVN092, VS36 (>80 tạ/ha), DK8868 (78 tạ/ha), PAC 558, PAC 669 và LVN883.
Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chi tiết hóa nguồn gốc 6 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu ngô cung cấp và đối chứng NK67. Mô tả điều kiện đất đai tại phường Quang Vinh, thời gian bố trí vụ Xuân 2016, thiết kế thí nghiệm RCBD 3 lần nhắc lại, quy chuẩn đo đếm các chỉ tiêu nông sinh học, công thức giải tích các yếu tố cấu thành năng suất và quy trình kỹ thuật phân bón, chăm sóc đồng ruộng.
Phần 4: Kết quả và thảo luận
Tập trung phân tích các dữ liệu thực nghiệm thu thập từ thí nghiệm vụ Xuân 2016:
1. Thời gian các giai đoạn sinh trưởng và phát triển
Tất cả 6 tổ hợp lai và đối chứng đều thuộc nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình (111–119 ngày). Khoảng cách tung phấn – phun râu dao động từ 0 đến 1 ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thụ phấn đồng đều, hạn chế hiện tượng khuyết hạt.
| Tổ hợp lai |
Gieo – Trỗ cờ (ngày) |
Gieo – Tung phấn (ngày) |
Gieo – Phun râu (ngày) |
Khoảng cách TP – PR (ngày) |
Gieo – Chín sinh lý (ngày) |
| TA16-3 |
69 |
70 |
70 |
1 |
118 |
| TA16-5 |
71 |
71 |
72 |
1 |
115 |
| TA16-6 |
70 |
70 |
71 |
1 |
115 |
| TA16-7 |
71 |
71 |
72 |
1 |
115 |
| TA16-8 |
70 |
70 |
70 |
0 |
111 |
| TA16-9 |
68 |
69 |
70 |
1 |
115 |
| NK67 (Đ/C) |
71 |
71 |
71 |
0 |
119 |
| $CV (%)$ |
1,1 |
0,9 |
0,7 |
- |
- |
| $LSD_{0{,}05}$ |
1,0 |
1,0 |
1,0 |
- |
- |
2. Đặc điểm hình thái và cấu trúc tán lá
Chiều cao cây biến động từ 187,7 cm đến 219,7 cm. Về tỷ lệ vị trí đóng bắp trên chiều cao thân cây, tổ hợp TA16-3 (49,39%) và TA16-5 (49,71%) đạt ngưỡng lý tưởng (gần mức 50%), giúp cây cân bằng trọng tâm và nâng cao khả năng chống đổ ngã. Chỉ số diện tích lá (LAI) đạt từ 3,43 đến 4,40 m² lá/m² đất; trong đó TA16-7 đạt 4,14 m² lá/m² đất, tương đương với đối chứng NK67.
| Tổ hợp lai |
Chiều cao cây (cm) |
Chiều cao đóng bắp (cm) |
Tỷ lệ đóng bắp/cao cây (%) |
Số lá trên cây (lá) |
Chỉ số diện tích lá (m² lá/m² đất) |
| TA16-3 |
212,8 |
105,1 |
49,39 |
20,7 |
3,54 |
| TA16-5 |
187,7 |
93,3 |
49,71 |
20,3 |
3,67 |
| TA16-6 |
192,2 |
88,2 |
45,89 |
20,8 |
3,74 |
| TA16-7 |
215,9 |
103,0 |
47,71 |
21,0 |
4,14 |
| TA16-8 |
219,7 |
93,7 |
42,65 |
20,3 |
3,68 |
| TA16-9 |
188,6 |
78,9 |
35,82 |
19,5 |
3,43 |
| NK67 (Đ/C) |
215,7 |
109,0 |
50,53 |
21,6 |
4,40 |
| $CV (%)$ |
2,2 |
3,4 |
- |
1,0 |
4,9 |
| $LSD_{0{,}05}$ |
8,10 |
5,8 |
- |
0,3 |
0,3 |
3. Động thái tăng trưởng chiều cao cây và tốc độ ra lá
- Tăng trưởng chiều cao: Giai đoạn 20 ngày đầu sau trồng, cây tăng trưởng chậm (1,00–1,20 cm/ngày). Tốc độ tăng vọt từ sau 40 ngày và đạt đỉnh điểm ở giai đoạn 50–60 ngày sau trồng (đạt 4,81–5,90 cm/ngày), mạnh nhất là TA16-3 (5,90 cm/ngày).
- Tốc độ ra lá: Giai đoạn 20 ngày đầu đạt 0,12–0,15 lá/ngày; tăng dần và đạt cao nhất ở giai đoạn 50–60 ngày sau gieo (0,26–0,32 lá/ngày).
| Tổ hợp lai |
Tăng trưởng CC 20 ngày (cm/ngày) |
Tăng trưởng CC 40 ngày (cm/ngày) |
Tăng trưởng CC 60 ngày (cm/ngày) |
Tốc độ ra lá 20 ngày (lá/ngày) |
Tốc độ ra lá 40 ngày (lá/ngày) |
Tốc độ ra lá 60 ngày (lá/ngày) |
| TA16-3 |
1,20 |
2,82 |
5,90 |
0,13 |
0,19 |
0,28 |
| TA16-5 |
1,00 |
3,04 |
5,42 |
0,12 |
0,16 |
0,32 |
| TA16-6 |
1,14 |
3,06 |
5,05 |
0,15 |
0,19 |
0,28 |
| TA16-7 |
1,00 |
2,74 |
5,51 |
0,14 |
0,18 |
0,27 |
| TA16-8 |
1,20 |
3,10 |
5,12 |
0,13 |
0,18 |
0,26 |
| TA16-9 |
1,06 |
2,81 |
4,81 |
0,13 |
0,15 |
0,30 |
| NK67 (Đ/C) |
1,14 |
2,99 |
5,48 |
0,15 |
0,17 |
0,30 |
4. Khả năng chống chịu sâu bệnh
Trong vụ Xuân 2016, đồng ruộng thí nghiệm không xuất hiện bệnh hại nguy hiểm, chỉ ghi nhận hai đối tượng sâu hại chính là sâu đục thân (Chilo partellus) và sâu cắn râu:
- Sâu đục thân: Các tổ hợp TA16-3, TA16-5, TA16-6, TA16-7 và TA16-8 có khả năng chống chịu tốt hơn đối chứng, chỉ bị hại nhẹ ở mức điểm 2 (tỷ lệ hại 5–<15%). Tổ hợp TA16-9 và giống đối chứng NK67 nhiễm ở mức điểm 3 (tỷ lệ hại 15–<25%).
- Sâu cắn râu: Phân hóa rõ rệt giữa các tổ hợp lai. Tổ hợp TA16-8 và TA16-9 chống chịu tốt nhất (điểm 2); TA16-6 và TA16-7 nhiễm trung bình (điểm 3); TA16-5 nhiễm khá (điểm 4); trong khi TA16-3 và đối chứng NK67 nhiễm nặng nhất (điểm 5, tỷ lệ cây bị hại từ 35–50%).
Phần 5: Kết luận và đề nghị
Đưa ra kết luận tổng hợp về đặc tính nông học, thời gian sinh trưởng và khả năng chống chịu của từng tổ hợp lai; đề xuất tiếp tục theo dõi, khảo nghiệm mở rộng các tổ hợp triển vọng trong các mùa vụ tiếp theo.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Kết quả chính rút ra từ số liệu thực nghiệm
- Thời gian sinh trưởng: Xác định toàn bộ 6 tổ hợp ngô lai mới (TA16-3 đến TA16-9) đều thuộc nhóm chín trung bình (111–118 ngày), ngắn hơn hoặc tương đương giống đối chứng NK67 (119 ngày). Trong đó, tổ hợp TA16-8 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất (111 ngày), chín sớm hơn đối chứng 8 ngày.
- Hình thái và cấu trúc cây:
- TA16-8 có chiều cao cây lớn nhất (219,7 cm), sinh trưởng thân lá mạnh.
- TA16-3 và TA16-5 có tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây đạt tối ưu nhất (lần lượt 49,39% và 49,71%), tạo thế cây vững chắc, hạn chế nguy cơ gãy đổ.
- TA16-7 có bộ lá phát triển mạnh nhất trong số các tổ hợp mới với 21,0 lá/cây và chỉ số diện tích lá $LAI = 4{,}14\text{ m}^2\text{ lá/m}^2\text{ đất}$, tương đương đối chứng NK67 ($LAI = 4{,}40\text{ m}^2/\text{m}^2$).
- Tính chống chịu sinh học:
- Năm tổ hợp lai (TA16-3, TA16-5, TA16-6, TA16-7, TA16-8) thể hiện tính kháng sâu đục thân tốt hơn đối chứng NK67 (đạt điểm 2 so với điểm 3 của NK67).
- Tổ hợp TA16-8 thể hiện tính ưu việt đồng đều nhất về khả năng kháng sâu hại: đạt điểm 2 với sâu đục thân và điểm 2 với sâu cắn râu.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Tiếp tục đưa các tổ hợp lai có triển vọng (đặc biệt là các tổ hợp có độ đồng đều cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt như TA16-8, TA16-7, TA16-3) vào khảo nghiệm sản xuất ở các mùa vụ tiếp theo (vụ Thu Đông, vụ Đông) và trên các chân đất khác nhau tại Thái Nguyên.
- Tăng cường áp dụng đúng quy trình thâm canh, bón phân cân đối và chủ động tưới tiêu trong giai đoạn trỗ cờ - phun râu để phát huy tối đa tiềm năng năng suất của giống mới.
Đóng góp mới của khóa luận
- Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm hoàn chỉnh về đặc tính nông sinh học, động thái tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá theo từng chu kỳ 10 ngày của 6 tổ hợp ngô lai mới lần đầu được thử nghiệm tại Thái Nguyên.
- Đánh giá định lượng tính chống chịu sâu đục thân và sâu cắn râu của các tổ hợp lai trong điều kiện tiểu vùng sinh thái thành phố Thái Nguyên, tạo cơ sở thực tiễn cho công tác tuyển chọn giống của Viện Nghiên cứu ngô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế: Thí nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi 01 vụ gieo trồng duy nhất (vụ Xuân năm 2016) và tại 01 địa điểm (phường Quang Vinh, TP. Thái Nguyên). Do đó, các phản ứng về tính thích ứng và độ ổn định của các tổ hợp lai khi gặp điều kiện thời tiết bất thuận cực đoan (khô hạn, mưa bão, rét muộn) chưa được đánh giá qua nhiều chu kỳ thời gian.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Khảo nghiệm lặp lại qua các vụ khác nhau trong năm (vụ Hè Thu, vụ Đông) để xác định thời vụ gieo trồng tối ưu cho từng tổ hợp lai.
- Mở rộng phạm vi khảo nghiệm ra các vùng sinh thái đặc thù khác của tỉnh Thái Nguyên (như vùng đất dốc đồi núi huyện Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương).
- Tiếp tục hoàn thiện đánh giá chi tiết các chỉ tiêu về phẩm chất hạt, tỷ lệ hạt/bắp và năng suất thực thu của các tổ hợp lai ở quy mô sản xuất thử.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Chọn giống cây trồng.
- Cán bộ khuyến nông và các đơn vị sản xuất nông nghiệp tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc đang tìm kiếm nguồn giống ngô mới thay thế các giống cũ.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
- Phương pháp nghiên cứu: Quy trình bố trí thí nghiệm đồng ruộng RCBD theo QCVN 01-56:2011/BNNPTNT, công thức tính diện tích lá và phương pháp theo dõi động thái tăng trưởng theo từng chu kỳ 10 ngày.
- Dữ liệu tổng quan: Bảng số liệu tổng hợp chi tiết về bức tranh sản xuất ngô toàn cầu, các vùng sinh thái Việt Nam và chuỗi số liệu sản xuất ngô tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2005–2015.
Câu hỏi thường gặp
1. Thí nghiệm khảo nghiệm những tổ hợp ngô lai nào và sử dụng giống nào làm đối chứng?
Thí nghiệm khảo nghiệm 06 tổ hợp ngô lai mới ký hiệu là TA16-3, TA16-5, TA16-6, TA16-7, TA16-8 và TA16-9 do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo. Giống đối chứng là giống ngô lai thương mại NK67 của Công ty Syngenta Việt Nam.
2. Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai biến động ra sao trong vụ Xuân 2016?
Thời gian sinh trưởng (từ gieo đến chín sinh lý) của các tổ hợp biến động từ 111 đến 119 ngày, thuộc nhóm giống trung ngày:
- Ngắn nhất: TA16-8 (111 ngày).
- Nhóm 115 ngày: TA16-5, TA16-6, TA16-7, TA16-9.
- Nhóm dài ngày hơn: TA16-3 (118 ngày) và đối chứng NK67 (119 ngày).
3. Tổ hợp lai nào có tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây đạt mức cân đối nhất?
Tổ hợp lai TA16-3 và TA16-5 có tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao cây lý tưởng nhất, đạt lần lượt là 49,39% (chiều cao cây 212,8 cm / đóng bắp 105,1 cm) và 49,71% (chiều cao cây 187,7 cm / đóng bắp 93,3 cm), tiệm cận mức tối ưu 50% trong chọn tạo giống giúp cây có khả năng chống đổ ngã tốt.
4. Khả năng chống chịu sâu hại giữa các tổ hợp lai có sự phân hóa như thế nào?
- Về sâu đục thân (Chilo partellus): Năm tổ hợp TA16-3, TA16-5, TA16-6, TA16-7, TA16-8 đều kháng tốt hơn đối chứng, đạt điểm 2 (<15% cây bị hại); TA16-9 và NK67 nhiễm ở điểm 3 (15–<25%).
- Về sâu cắn râu: TA16-8 và TA16-9 chống chịu tốt nhất (điểm 2); TA16-6 và TA16-7 đạt điểm 3; TA16-5 đạt điểm 4; riêng TA16-3 và đối chứng NK67 nhiễm nặng nhất ở mức điểm 5 (35–50% cây bị hại).
5. Quy trình kỹ thuật bón phân và mật độ gieo trồng trong thí nghiệm được thiết kế như thế nào?
Mật độ gieo trồng là 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách 70 cm × 25 cm × 1 cây/hốc). Lượng phân bón cho 1 ha gồm 2 tấn phân hữu cơ vi sinh và phân vô cơ theo tỷ lệ $150\text{ N} : 90\text{ P}_2\text{O}_5 : 90\text{ K}_2\text{O}$ (tương đương 326,09 kg Đạm urê, 562,5 kg Supe lân, 150 kg Kaliclorua). Toàn bộ phân vi sinh và supe lân được bón lót 100%; lượng đạm và kali còn lại được chia đều để bón thúc thành 2 đợt (khi ngô đạt 3–5 lá và khi ngô đạt 7–9 lá kết hợp vun gốc).
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Cháng Chẩn Hùng đã thực hiện đánh giá thực nghiệm toàn diện khả năng sinh trưởng, phát triển và tính chống chịu sâu bệnh của 06 tổ hợp ngô lai mới vụ Xuân 2016 tại Thái Nguyên theo đúng Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-56:2011/BNNPTNT. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các tổ hợp lai đều có thời gian sinh trưởng trung bình (111–118 ngày), trong đó tổ hợp TA16-8 thể hiện ưu thế vượt trội về thời gian chín sớm (111 ngày) cùng khả năng kháng đồng thời sâu đục thân và sâu cắn râu ở mức tốt (điểm 2). Đây là công trình thực nghiệm nông học có phương pháp bố trí chuẩn xác, số liệu tin cậy, đóng góp dữ liệu thực tiễn giá trị cho công tác tuyển chọn và phát triển các giống ngô lai có năng suất, tính chống chịu cao tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc.