CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Đánh giá Đánh giá là một quá trình kiểm tra khách quan và độc lập về các yếu tố như bối cảnh, mục tiêu, kết quả hoạt động và phương tiện sử dụng với mục đích rút ra các bài học kinh nghiệm để áp dụng rộng hơn. Sản xuất Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người.
Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất tập trung vào những vấn đề chính sau: Sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hoá việc sư dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết để làm ra sản phẩm. Một số lý luận về thị trường Trong nền kinh tế hiện nay không thể coi thị trường chỉ là những chợ, cửa hàng, siêu thị mặc dù những nơi đó diễn ra quá trình mua và bán. Cần hiểu thị trường là nơi diễn ra các mối quan hệ kinh tế, là nơi chứa đựng tổng số cung - cầu của hàng hóa.
* Một số quan điểm về thị trường: - Thị trường là nơi người mua và người bán mua và bán hàng hóa và dịch vụ [3]. - Thị trường là nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ, hay nói cách khác, thị trường là một nhóm người có nhu cầu cụ thể và sẵn sàng trả tiền nhằm thỏa mãn nhu cầu đó [3]. - Thị trường là một cơ chế phân bổ nguồn lực, quy định sản xuất và phân phối sản phẩm, dich vụ thông qua hệ thống giá cạnh tranh [3]. - Thị trường là một thể chế kinh tế để thực hiện các giao dịch kinh tế [3].
- Thị trường là cầu nối giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó là mục tiêu của quá trình sản xuất hàng hóa [1]. Định nghĩa nào thì cũng không thể tách rời khỏi quan điểm cốt lõi là: Thị trường bao gồm toàn bộ sự trao đổi hàng hóa, được diễn ra trong một thời điểm và một không gian nhất định. 5 * Vai trò của thị trường trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp: Thị trường có vị trung tâm, vừa là mục tiêu của người sản xuất kinh doanh, vừa là môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa nông nghiệp [2]. Đối với thương mại, dịch vụ nông nghiệp, thị trường đảm bảo quá trình hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, quyết định sự sống còn và phát triển của doanh nghiệp.
thị trường là công cụ điều tiết của nhà nước đến hoạt động thương mại và toàn nền kinh tế. Thị trường dự trữ hàng hóa phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội đảm bảo việc điều hòa cung cầu. Thị trường là một yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài, môi trường kinh tế xã hội. Thị trường là cầu nối giữa doanh nghiệp thương mại với bên ngoài, đó là khách hàng, các doanh nghiệp khác và ngành khác… Thị trường phá vỡ ranh giới của nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc, phát triển các loại dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu dùng [2].
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước, thị trường nông sản phẩm có vai trò quan trọng là đối tượng, là căn cứ quan trọng của việc xác định phương hướng sản xuất kinh doanh, là căn cứ để lập kế hoạch sản xuất [1]. Khái niệm tiêu thụ và kênh tiêu thụ - Khái niệm chung về tiêu thụ hàng hóa Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua tiêu thụ thì giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa được thực hiện, hàng hóa chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Quá trình tiêu thụ là chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng.
Hàng hóa được coi là tiêu thụ khi được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. - Kênh tiêu thụ: Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về kênh tiêu thụ. Kênh tiêu thụ có thể được coi là con đường đi của sản phẩm từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Một số người lại mô tả kênh tiêu thụ là các hình thức liên kết lỏng lẻo của các công ty để cùng thực hiện mục đích thương mại.
Các định nghĩa trên xuất phát từ quan điểm khác nhau của người nghiên cứu. 6 Kênh tiêu thụ thực chất là một tập hợp các tổ chức, cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp, người sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng. Nói cách khác, kênh tiêu thụ là hệ thống các quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh tiêu thụ là hệ thống mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức liên quan trong quá trình mua và bán.
Các kênh tiêu thụ tạo nên hệ thống thương mại phức tạp trên thị trường. Kênh tiêu thụ hoặc kênh phân phối là tâp hợp những cá nhân hay những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Có thể nói đây là một nhóm các tổ chức và cá nhân thực hiện các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của người mua và tiêu dùng hàng hóa của người sản xuất. Tất cả những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh, các thành viên nằm giữa người sản xuất và người tiêu dùng là trung gian thương mại, các thành viên này tham gia nhiều kênh phân phối và thực hiện các chức năng khác nhau [2].
Tùy vào điều kiện cụ thể và các sản phẩm mà mỗi doanh nghiệp sẽ có sự lựa chọn hình thức kênh tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp, có thể chọn kênh tiêu thụ trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc kênh tiêu thụ hỗn hợp… 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm sinh học của cây chè Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà). Tên gọi sinensis có nghĩa là “Trung Quốc” trong tiếng Latinh.
Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea bohea và thea viridis. Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2m khi được trồng để lây lá. Hoa chè màu trắng ánh vàng, với 7-8 cánh hoa.
Hạt của nó có thể ép để lấy dầu [9]. 7 Chè xanh, chè ô long và chè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở mức độ oxi hóa khác nhau. Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu: Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới. Ngày nay chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao.
Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau: - Cafêin và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng. - Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày. Theo xác nhận của M.
Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụng làm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè. Dựa vào số liệu của Viện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp và neprit mạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh được dùng catechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày. Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C, trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu. - Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP và nhiều nhất là vitamin C - Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chống phóng xạ.
Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việc chứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vị phóng xạ rất nguy hiểm. Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở một vùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước 8 chè, vì vậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè. Các tiến sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuột bạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được từ cơ thể 90% chất đồng vị phóng xạ Sr-90. Ý nghĩa của việc phát triển sản xuất chè Cây chè là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao.
Nó là một loại cây trồng có vị trí quan trọng trong dời sống sinh hoạt cũng như phát triển kinh tế và văn hóa con người, sản xuất chè tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu giải khát của đông đỏa nhân dân ở nhiều quốc gia. Chè có nhiều vitamin giúp thanh lọc cơ thể, giải khát, có tác dụng giảm thiểu một số bệnh thường gặp về máu, do đó chè đã trở thành đồ uống phổ thông trên thế giới. Tại một số nước thói quen uống chè đã tạo thành một nền văn hóa truyền thống một tập quán. Hiện nay khoa học tiến bộ đã đi sâu vào nghiên cứu tìm ra được một số hoạt chất quý trong cây chè như: Cafein, Vitamin A, B1.
Đặc biệt trong cây chè còn chứa Vitamin C là loại Vitamin dùng để điều chế thuốc tân dược vì thế chè không những là loại cây giải khát mà chè còn có tên trong danh sách cây y dược.