Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu Phần 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Khái niệm mô hình Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi đặc biệt trong nghiên cứu khoa học. Theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan điểm, nội dung và cách hiểu riêng.
Góc độ tiếp cận về mặt vật lí học thì mô hình cùng hình dạng nhưng là thu nhỏ lại. Khi tiếp cận để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu.[9] Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta nhận biết dễ dàng đối tượng nghiên cứu.[4] Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và còn là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.[11] Trong thực tế để khái quát các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan hệ hay ý tưởng nào đó người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ phù hợp cho một loại điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có một mô hình sản xuất chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau. Do đó ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan điểm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau.
Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà có thể thống nhất đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu. Vai trò của mô hình Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống. Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống. Nhờ các mô hình ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của các số liệu quan sát được và các giả định rút ra.
Nó giúp ta hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp. Và mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lí hệ thống và giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống. Việc thể hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng, vật nuôi tại khu vực nào đó. Từ đó đưa ra quyết định tốt nhất đem lại mục đích tối đa cho người dân, phát huy những tiềm năng mà người dân đã có.
Đánh giá mô hình 2. Khái niệm đánh giá - Đánh giá là việc nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện công việc, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của sự việc trong mối quan hệ nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. - Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. - Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động khuyến nông so với kế hoạch ban đầu.
- Trong đánh giá dự án người ta có thể hiểu như sau: + Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: Liệu dự án có đạt được các kết quả và mức độ dự án đạt được so với mục tiêu của dự án thông qua các hoạt động đã chỉ ra trong tài liệu dự án. + Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của dự án. Nó cũng điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện dự án nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời. + Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu điều tra theo phương pháp thống kê.
6 + Việc đánh giá được tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn. + Việc đánh giá tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động. Các loại đánh giá Đánh giá tiền khả thi Là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án để xem xét hoạt động hay dự án có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của hoạt động hay dự án để làm căn cứ cho phê duyệt cho dự án hay hoạt động có đem vào thực hiện không.
Đánh giá thực hiện: Loại đánh giá này thường bao gồm các loại sau: - Đánh giá định kỳ: Là đánh giá trong giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường dùng cho các dự án dài hạn. - Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá khi kết thúc dự án hay hoạt động. Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của nó.
Mục đích của đánh giá cuối kỳ là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện dự án. - Đánh giá tiến độ thực thi: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai các hoạt động có đúng thời gian dự định không. - Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: Là xem xét việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng theo nguyên tắc đã quy định không để có những điều chỉnh phù hợp và rút ra kinh nghiệm. - Đánh giá kỹ thuật dự án: Là xem xét lại những kỹ thuật đưa vào có phải mới không? Quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Đây là một vấn đề mà bất kỳ một dự án nào khi tiến hành đều phải xem xét và đánh giá. - Đánh giá khả năng nhân rộng: Là xem xét kết quả dự án có thể áp dụng rộng rãi không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì? 7 Tổng kết - Khi một dự án hay một hoạt động kết thúc người ta thường tổ chức tổng kết để đánh giá công việc đã được hoàn thiện hay chưa hoàn thiện, thành công hay thất bại để rút ra kinh nghiệm và đưa ra hướng giải quyết. - Có những mục tiêu kế hoạch cụ thể cho giai đoạn kế tiếp. Tiêu chí đánh giá Khái niệm tiêu chí đánh giá Tiêu chí như một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có thể định lượng được dùng để đánh giá hay phân loại một dự án hay một hoạt động nào đó.
Các đặc điểm của chỉ tiêu đánh giá - Đối với các chỉ tiêu mang tính định tính: Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được. Nhóm chỉ tiêu này thường phản ánh chất lượng dựa trên định tính nhiều hơn: Cây sinh trưởng chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu. Việc xác định các chỉ tiêu này thường thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của những người tham gia quan sát và người dân. - Đối với các chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng: Là các chỉ tiêu đo đếm được cụ thể, các chỉ tiêu này thường được sử dụng để kiểm tra tiến độ thực hiện công việc.
Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra phỏng vấn…cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng và trên hiện trường: Sự sinh trưởng của cây trồng, năng suất cây trồng,… Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá: - Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông theo mục tiêu đã đề ra: Năng suất, diện tích, cơ cấu, vốn sử dụng. - Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay hoạt động khuyến nông: Tổng thu, tổng chi, hiệu quả lao động, hiệu quả vốn. - Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của dự án hay hoạt động khuyến nông đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường. Hiệu quả Hiệu quả là khái niệm chung dùng để chỉ kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường… 8 2.
Khái niệm hiệu quả kinh tế Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là chỉ tiêu tương đối được biểu hiện bằng kết quả sản xuất so với chi phí đạt được gọi là chỉ tiêu hiệu quả thuận. Ngược lại, chi phí sản xuất so với kết quả sản xuất gọi là chỉ tiêu hiệu quả nghịch. Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất gọi là chỉ tiêu năng suất.
Một số công thức tính hiệu quả kinh tế Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. H = Q/C Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế Q: Kết quả thu được C: Chi phí sản xuất Công thức 2: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa giá trị kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. H=Q–C Công thức 3: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa phần giá trị tăng thêm của kết quả đạt được so với phần tăng thêm của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hay mối quan hệ tỷ số giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung. Nó được so sánh cả về số tương đối và số tuyệt đối.
Ý nghĩa của chỉ tiêu hiệu quả kinh tế Hàng ngày chúng ta thường nói “Phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả”, đó chính là việc nâng cao hiệu quả kinh tế, là sử dụng hợp lý hơn các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, với chi phí không đổi nhưng tạo ra được nhiều kết quả hơn.