Đặt vấn đề Phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản là một chủ trương kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, chè mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ trong sản xuất chế biến để xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn góp phần tích cực ổn định đời sống kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, đưa văn minh công nghiệp tới vùng sâu vùng xa. Vì vậy, nghiên cứu những vấn đề về sản xuất như chất lượng giống chè có ý nghĩa quan trọng trong việc tồn tại, phát triển của ngành chè. Cây chè (Camellia sinensis O.Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có chu kỳ sản xuất, kinh doanh từ 30 - 40 năm, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định ( Trịnh Xuân Ngọ, 2009) [8].
Là loại cây trung tính ưa sáng nhưng không gay gắt, không ưa nước nhưng cũng cần nước ở mức độ vừa phải, chịu được hạn và rét. Cây chè rất thích hợp với vùng đồi núi, trung du Bắc Bộ và Tây Nguyên nước ta. Cây chè có phạm vi thích ứng rộng, nhưng là một cây lấy lá, chất lượng chè búp tươi phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu. Nói chung chè trồng ở vùng trung du, miền núi có chất lượng cao hơn.
Ở vùng này, trồng chè theo phương thức nông lâm kết hợp, tận dụng tối đa không gian và diện tích canh tác nhằm tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao ( Lê Tất Khương, 2003) [0]. Theo Hiệp hội chè Việt Nam năm 2012, nước ta có khoảng 124 nghìn ha chè (trong đó vùng miền núi phía Bắc chiếm 68,94% diện tích chè của cả nước), lượng chè xuất khẩu trên 160 nghìn tấn (chiếm 76%/ tổng sản lượng chè), với kim ngạch xuất khẩu đạt 243 triệu USD, xu hướng trong thời gian 2 tới của ngành chè Việt Nam là tăng giá trị và chất lượng sản phẩm. Trong những năm qua, nhờ việc ứng dụng thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất chè như giống mới, kỹ thuật canh tác đã làm cho năng suất, sản lượng chè tăng lên rõ rệt, nhiều nương chè đạt năng suất từ 15 - 20 tấn/ha, có những nương chè đạt > 25 tấn/ha ( Lê Tất Khương, 2003) [0]. Đã từ lâu chè được coi là một trong những thứ nước uống cần thiết cho con người, chè là một đồ uống hấp dẫn và thực sự có lợi cho sức khỏe.
Một số nghiên cứu khoa học gần đây ở cả phương Đông và phương Tây đã cho thấy rằng, uống chè đều đặn có thể giảm mơ thừa trong máu, ngăn chặn tích tụ cholesteron và phóng xạ… Cùng với vùng chè Tân Cương với thương hiệu nổi tiếng, chè được trồng ở Đồng Hỷ đang dần chiếm lĩnh thị trường trong, ngoài tỉnh. Cây chè được trồng trên đất Đồng Hỷ từ khi nào không ai nhớ rõ. Điều này cho thấy, cây chè đã gắn bó với con người và vùng đất nơi đây từ rất lâu đời và không chỉ góp phần hình thành nên nét văn hóa trà đặc trưng mà còn trở thành nguồn thu nhập chính, giúp người dân bản địa xóa nghèo và vươn lên làm giàu.Tập trung phát triển cây chè, cây kinh tế mũi nhọn một cách bền vững là mục tiêu mà huyện Đồng Hỷ đang hướng tới. Xã Hòa Bình - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên có rất nhiều tiềm năng để phát triển ngành chè.
Trước đây chè chủ yếu được trồng từ hạt thì cho năng suất cũng như chất lượng kém, làm giảm khả năng cạnh tranh của chè tại xã Hòa Bình nói riêng và chè trên địa bàn khác của huyện Đồng Hỷ nói chung so với các huyện khác. Trong những năm gần đây bên cạnh những người dân đã mạnh dạn thay thế giống chè hạt bằng chè cành sớm cho thu hoạch và năng suất cao thì vẫn còn một số hộ gia đình sử dụng giống chè cũ được trồng từ hạt cho năng suất thấp, nhiều sâu bệnh, ảnh hưởng đến chất lượng chè và tính cạnh tranh của chè. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của nhà trường, của ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn tôi tiến hành 3 nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả của việc trồng chè từ cành tại xã Hòa Bình - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”. Nhằm đánh giá được hiệu quả kinh tế mà chè cành mang lại so với giống chè hạt cũ.
Mục đích nghiên cứu Đánh giá hiệu quả của việc thay thế giống chè hạt bằng chè cành từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu cho việc phát triển chè cành nói riêng và nâng cao hiệu quả cây chè nói chung góp phần nâng cao đời sống người dân một cách bền vững. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá thực trạng phát triển cây chè tại Xã Hòa Bình. Đánh giá quá trình chuyển đổi thay thế chè hạt bằng chè cành tại xã Hòa Bình. Đánh giá hiệu quả của việc thay thế chè hạt bằng chè cành tại xã Hòa Bình.
Đề xuất giải pháp phát triển chè cành tại xã Hòa Bình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập - Giúp cho sinh viên làm quen với thực tế sản xuất, biết áp dụng lí thuyết vào thực tế, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân. - Các kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học. - Tạo cho sinh viên một tác phong làm việc tự lập khi ra thực tế. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Thành công của đề tài sẽ đánh giá được giống chè cho hiệu quả kinh tế cao nhất, đóng góp cho định hướng phát triển cây chè tại xã Hòa Bình. - Việc đánh giá được giống chè tốt nhất góp phần nâng cao năng suất, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao chất lượng chè, tăng tính cạnh tranh đối với các sản phẩm chè của các địa phương khác trên thị trường.
4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Nguồn gốc cây chè Nhiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm. Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống.
Cũng theo các nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùng nguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn Độ chứ không phải là ở Trung Quốc. Những công trình nghiên cứu của Đjêmukhatze – một tác giả người Nga về phức catechin của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chất catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu lên luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốc cây chè. Ông kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa, tổng hợp chủ yếu là epicatechin và epicatechin galat, ở chúng phát triển chậm khả năng tổng hợp epigalo catechin và các galat của nó để tạo thành galocatechin. Nghiên cứu các cây chè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là epicatechin và epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin).
Khi di thực những cây chè dại này lên phía Bắc, với các điều kiện khắc nghiệt hơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng dần với các điều kiện sinh thái bằng cách có thành phần catechin phức tạp hơn, cùng với sự tạo thành epigalocatechin và các galat của nó. Điều này có nghĩa là sự trao 5 đổi chất ở đây hướng về phía tăng cường quá trình hiđroxin hóa và galin hóa. Từ những biến đổi sinh hóa này của lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt chăm sóc, cho phép đi tới một kết luận mới "Nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam" ( Lê Tất Khương và cs, 1999) [0]. Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác nhau từ 30 độ vĩ Nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ Bắc (Gruzia - Liên Xô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản.
Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một số nước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong những điều kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp trồng chè trên thế giới. Phân loại cây chè Cây chè thuộc ngành hạt kín Angiospermae,lớp song tử diệp Dicotyledonae, bộ chè Theales, họ chè Theaceae, chi chè Camellia (Thea), loài Camellia (Thea) sinensis.Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận là: Camellia sinensis (L) O. Kuntze và có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis ( Lê Tất Khương và cs, 1999) [0]. Năm 1753 Linê đặt tên khoa học cho cây chè là Thea sinensis, sau đó lại đặt là Camellia sinensis.Sau Linê có nhà thực vật học xếp cây chè thuộc chi Thea, có người lại xếp cây chè thuộc chi Camellia sinensis.Tên khoa học của cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis.
Hơn một trăm năm, tên khoa học của cây chè vẫn là một vấn đề tranh luận. Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi Thea và Camellia làm một và gọi là chi Camellia. Vì vậy tên khoa học của cây chè được nhiều người thường gọi là Camellia sinensis (L) O. Cơ sở của việc phân loại chè thường dựa vào: - Cơ quan dinh dưỡng.
6 - Cơ quan sinh thực. - Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin. Cây chè là cây công nghiệp lâu năm, với 02 chu kỳ phát triển: Chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ: - Chu kỳ phát triển lớn: Bao gồm suốt cả đời sống cây chè, kể từ khi tế bào trứng thụ tinh, bắt đầu phân chia cho đến khi cây chè già cỗi và chết. Chu kỳ phát triển lớn của cây chè được các nhà khoa học Trung Quốc chia làm 5 giai đoạn: Giai đoạn phôi thai (giai đoạn hạt giống), giai đoạn cây con, giai đoạn cây non, giai đoạn chè lớn và giai đoạn già cỗi.
- Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hàng năm): Bao gồm các giai đoạn sinh trưởng, phát triển trong một năm như: chồi mọc lá, ra hoa kết quả.