Đặt vấn đề Israel là một đất nƣớc nhỏ với diện tích trên 20.000 km2, trong đó 70% diện tích lãnh thổ là sa mạc, còn lại là đồi núi đá trọc, khí hậu cực kỳ khắc nghiệt, sự tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo của con ngƣời Israel, cũng nhƣ việc áp dụng hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất là lời giải đáp cho “phép màu trên hoang mạc” của ngƣời Israel. Ngành nông nghiệp Israel phát triển ở trình độ cao. Bất chấp điều kiện địa lý không thích hợp cho nông nghiệp, Israel là một nhà xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp. Hơn một nửa diện tích đất là sa mạc, điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thiếu nƣớc hoàn toàn không thích hợp cho nông nghiệp.
Tính đến năm 2014, 24,2% diện tích Israel là đất nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu. Mặc dù lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lƣợng lao động trong nƣớc, Israel tự sản xuất đƣợc 95% nhu cầu thực phẩm, phần còn lại đƣợc bổ sung từ việc nhập khẩu ngũ cốc, các loại hạt lấy dầu, thịt, cà phê, ca cao, đƣờng. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp vấn đề ô nhiễm môi trƣờng do phế phụ phẩm nông nghiệp cũng cần đƣợc quan tâm giải quyết.
Sau thu hoạch một phần phế phụ phẩm đƣợc sử dụng để làm chất đốt cho gia đình, làm thức ăn dự trữ cho gia súc nhƣng phần lớn phế phẩm nông nghiệp đƣợc chất đống và đốt khi thời tiết thuận lợi. Việc đốt phế phẩm ngay trên đồng ruộng gây nhiều bất lợi, nhƣ phá tầng canh tác, các chất hữu cơ trong rơm dạ và trong đất biến thành chất vô cơ do nhiệt độ cao. Đất bị chai cứng, biến chất, mất kết cấu. Qúa trình đốt rơm dạ, phế phụ phẩm nông nghiệp ngoài trời không kiểm soát đƣợc lƣợng đioxit cacbon (CO2 ) phát thải vào khí n 2 quyển cùng cacbon monoxit (CO); Khí Metan (CH4); Các oxit Nitơ (NOx)… Ngoài ra nếu thời tiết không thuận lợi phế phẩm đƣợc phân hủy trong môi trƣờng yếm khí gây ô nhiễm môi trƣờng, dịch bệnh và ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng thu gom và xử lý cây ớt sau thu hoạch tại Farm 58, Moshav Paran, vùng Arava, Israel” 1. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu chung Đánh giá tình hình thu gom, xử lý cây ớt sau thu hoạch tại Farm 58, Moshav Paran, vùng Arava, Israel. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu tình hình, công nghệ sản xuất ớt tại Farm 58, moshav Paran, vùng Avara, Israel.
- Đánh giá tình hình thu gom, xử lý cây ớt sau thu hoạch tại Farm 58. - Đề xuất một số biện pháp xử lý cây ớt sau thu hoạch. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Củng cố lý thuyết kiến thức đã đƣợc trang bị trong quá trình học tập.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá vấn đề thực tế về tình hình thu gom, xử lý cây ớt sau thu hoạch tại Farm 58, moshav Paran, vùng Avara, Israel. Từ đó đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý cây ớt sau thu hoạch tại Farm 58, moshav Paran, vùng Avara, Israel. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về Israel Vị trí, địa lý Ngày 14 tháng 5 năm 1948 thành lập nhà nƣớc Do Thái, đƣợc gọi là nhà nƣớc của Israel (Palestinian Territories”.1: Bản đồ Israel Israel nằm ở Tây Nam Á giữa Địa Trung Hải và vùng sa mạc của Syria và Ả Rập.
Vùng địa lý của Địa Trung Hải là Địa Trung Hải ở phƣơng Tây, Lebanon ở phía Bắc, Syria ở vùng Đông Bắc, Jordan về phía Đông, Biển Đỏ về phía Nam, Ai Cập về phía Tây Nam.2: Quốc kỳ Israel Hình 2.3: Biểu tượng của Israel n 4 Tổng diện tích của Nhà nƣớc Israel là 22.145 km2 Israel đƣợc chia thành bốn vùng địa lý: đồng bằng ven biển Địa Trung Hải, dãy núi Central Hills, thung lũng Jordan Rift và sa mạc Negev (Area of Districts, Sub-Districts, Natural Regions and Lakes” Israel Central Bureau of Statistics) Đồng bằng ven biển Địa Trung Hải: Đồng bằng ven biển Địa Trung Hải, bờ biển phía tây của Israel trải dài dọc theo biển Địa Trung Hải, từ Rosh ha-Nikra ở phía Bắc đến dải Gaza ở phía Nam. Phần lớn dân số của Israel tập trung ở đây. Khu vực này màu mỡ và ẩm ƣớt và đƣợc biết đến với các vƣờn cây ăn quả và trồng nho. Khu Đồi Trung tâm: Ở phía Bắc của vùng này là những dãy núi và những ngọn đồi của Galilê trên và dƣới.
Thƣờng có độ cao từ 500 đến 700 mét so với mực nƣớc biển. Một số thung lũng cắt ngang qua các vùng cao nguyên từ đông sang tây, lớn nhất là thung lũng Jezreel. Thung lũng Jordan Rift: Rạn nứt mở rộng toàn bộ chiều dài của Israel từ thị trấn Metula phía Bắc đến Biển Đỏ ở miền Nam. Sông Jordan lớn nhất, Jordan, chảy qua Thung lũng Jordan và bao gồm hai hồ của Israel: biển Galilee (vùng nƣớc ngọt lớn nhất ở Israel) và Biển Chết (điểm thấp nhất trên trái đất).
Thung lũng Jordan đƣợc chia từ Bắc vào Nam thành Thung lũng Hula, Thung lũng Kinneret, Thung lũng Jordan, Thung lũng Biển Chết và Arava. n 5 Sa mạc Negev: Sa mạc Negev bao gồm khoảng 12000 km2, hơn một nửa tổng diện tích đất của Israel.4: Sa mạc Negev Khí hậu Nhiệt độ ở Israel rất khác nhau, đặc biệt là trong mùa đông. Các vùng ven biển, chẳng hạn nhƣ các khu vực của Tel Aviv và Haifa, có khí hậu Địa Trung Hải điển hình với mùa đông mát mẻ, mùa mƣa và mùa hè nóng. Khu vực Beersheba và Northern Negev có khí hậu bán khô hạn với mùa hè nóng, mùa đông mát mẻ và ít ngày mƣa nhiều hơn khí hậu Địa Trung Hải.
Miền Nam Negev và vùng Arava có khí hậu sa mạc với mùa hè nóng và khô, và mùa đông ôn hòa với vài ngày mƣa. Nhiệt độ cao nhất lục địa châu Á (54 oC hoặc 129.2 oF) đƣợc ghi lại vào năm 1942 tại Tirat Zvi kibbutz ở thung lũng sông Jordan phía bắc. (Watzman, Haim “Left for dead”. Tại các vùng núi cực cực khác có thể có gió, lạnh, và các khu vực có độ cao từ 750m trở lên (độ cao tƣơng tự Jerusalem) thƣờng sẽ nhận đƣợc ít nhất một lần tuyết rơi mỗi năm.
The Weather Channel) n 6 Từ tháng 5 đến tháng 9, mƣa ở Israel rất hiếm. Với nguồn nƣớc khan hiếm, Israel đã phát triển các công nghệ tiết kiệm nƣớc khác nhau, bao gồm tƣới nhỏ giọt. Ngƣời Israel cũng tận dụng ánh sáng mặt trời có sẵn cho năng lƣợng mặt trời, làm cho Israel trở thành nƣớc dẫn đầu trong việc sử dụng năng lƣợng mặt trời trên đầu ngƣời (thực tế mỗi ngôi nhà sử dụng các tấm pin mặt trời để sƣởi ấm nƣớc). Bốn vùng địa lý sinh học khác nhau tồn tại ở Israel, do vị trí của đất nƣớc nằm giữa vùng khí hậu ôn đới và nhiệt đới, giáp với biển Địa Trung Hải ở phía tây và sa mạc ở phía đông.
Vì lý do này, hệ thực vật và động vật của Israel rất đa dạng.867 loài thực vật đƣợc biết đến ở Israel. Trong số này, ít nhất 253 loài đƣợc giới thiệu và không có nguồn gốc. Có 380 khu bảo tồn tự nhiên của Israel ( “National Parks and Nature Reserves, Israel” ,Israel Ministry of Tourism.) Kinh tế của Israel Các ngành công nghiệp chủ yếu bao gồm các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm kim loại, thiết bị điện tử, y sinh học, nông sản, thực phẩm chế biến, hóa chất và thiết bị vận tải; ngành công nghiệp kim cƣơng của Israel là một trong những trung tâm của thế giới về cắt và đánh bóng kim cƣơng. Tài nguyên thiên nhiên tƣơng đối nghèo, Israel phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ, nguyên liệu thô, lúa mỳ, xe cơ giới, kim cƣơng chƣa cắt và các đầu vào sản xuất, mặc dù gần nhƣ hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu năng lƣợng của đất nƣớc này có thể thay đổi với những phát hiện gần đây về trữ lƣợng khí tự nhiên lớn ngoài khơi bờ biển.
Israel hoạt động tích cực trong phát triển phần mềm, viễn thông và bán dẫn. M ột số thuật ngữ về nông nghiệp Nông nghiệp là quá trình sản xuất lƣơng thực, thực phẩm, tơ, sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng chính và chăn nuôi gia súc. Công việc nông nghiệp cũng đƣợc biết đến bởi những ngƣời nông dân, trong khi đó các nhà khoa học, những nhà phát minh thì tìm cách cải tiến phƣơng pháp, công nghệ và kỹ thuật để làm tăng năng suất cây trồng vật nuôi (Từ điển bách khoa Việt Nam 3). Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình.
Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai (Từ điển bách khoa Việt Nam 3). Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đƣợc chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp. Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao. Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thƣơng mại, làm hàng hóa bán ra thị trƣờng hay xuất khẩu (Từ điển bách khoa Việt Nam 3).
Nông nghiệp hiện đại vƣợt ra khỏi sản xuất nông nghiệp truyền thống, loại sản xuất nông nghiệp chủ yếu tạo ra lƣơng thực cho con ngƣời hay làm thức ăn cho các con vật. Các sản phẩm nông nghiệp hiện đại ngày nay ngoài lƣơng thực, thực phẩm truyền thống phục vụ cho con ngƣời còn các loại khác nhƣ: sợi dệt(sợi bông, sợi len, lụa, sợi lanh), chất đốt (mêtan, dầu sinh học, ethanol…), da thú, cây cảnh, sinh vật cảnh, chất hóa học (tinh bột, đƣờng, mì chính, cồn, nhựa thông), lai tạo giống, các chất gây nghiện cả hợp pháp và không hợp pháp nhƣ (thuốc lá, cocaine…) (Từ điển bách khoa Việt Nam 3) n 8 Thế kỷ 20 đã trải qua một sự thay đổi lớn trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sự cơ giới hóa trong nông nghiệp và ngành sinh hóa trong nông nghiệp.