MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ và sự hình thành, phát triển vƣợt bậc của các ngành nghề sản xuất trong thời gian qua, một mặt thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc, mặt khác đã làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, nguyên vật liệu, năng lƣợng và cũng làm gia tăng nhanh chóng lƣợng chất thải rắn phát sinh. Chất thải rắn tăng nhanh chóng về số lƣợng, với thành phần ngày càng phức tạp đã và đang gây khó khăn cho công tác quản lý, xử lý. Bên cạnh đó, công tác quản lý, xử lý chất thải rắn ở nƣớc ta thời gian qua chƣa đƣợc áp dụng theo phƣơng thức quản lý tổng hợp, chƣa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lƣợng từ chất thải dẫn đến khối lƣợng chất thải rắn phải chôn lấp cao, không tiết kiệm quỹ đất, tại nhiều khu vực chất thải chôn lấp ở các bãi chôn lấp tạm, lộ thiên, hiện đã và đang là nguồn gây ô nhiễm môi trƣờng. Ngoài ra, công tác triển khai các quy hoạch quản lý chất thải rắn tại các địa phƣơng còn chậm; việc huy động các nguồn lực đầu tƣ xây dựng khu xử lý, nhà máy xử lý chất thải rắn còn gặp nhiều khó khăn; đầu tƣ cho quản lý, xử lý chất thải rắn còn chƣa tƣơng xứng; nhiều công trình xử lý chất thải rắn đã đƣợc xây dựng và vận hành, nhƣng cơ sở vật chất, năng lực và hiệu suất xử lý thải rắn chƣa đạt yêu cầu.
Chính vì vậy, hiệu quả đạt đƣợc trong công tác quản lý, xử lý chất thải có những hạn chế nhất định đồng thời việc xử lý chất thải rắn không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về môi trƣờng đã gây những tác động tổng hợp tới môi trƣờng, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội.Mục tiêu đề tài -Đánh giá đƣợc việc quản lý và xử lý chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất và chế biến của Nông Trại Chà Là (Farm 300) tại Hatzeva-Israel 1.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài -Nắm đƣợc phƣơng pháp xử lý và phân loại rác thải tại nông trại -Đƣa đƣợc ra các biện pháp xử lý và quản lý rác thải tại Việt Nam. n 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài.Khái niệm rác thải Chất thải là chất bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con ngƣời và động vật. Trong đó lƣợng rác thải sinh hoạt (RTSH) chiếm tỉ lệ cao nhất, RTSH chủ yếu phát sinh ra từ các hộ gia đình,khu công nghiệp, khu thƣơng mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải.Số lƣợng, thành phần chất lƣợng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau,phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật. Bất kì một hoạt động sống của con ngƣời, tại nhà, công sở, trên đƣờng đi, tại nơi công đồng, khu vực sản xuất.Đều sinh ra một lƣợng rác đáng kể.
Thành phần chủ yếu là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho mỗi trƣờng sống nếu không đƣợc xử lý kĩ, vậy nên RTSH có thể định nghĩa là những thành phần hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con ngƣời khi không đƣợc sử dụng và thải ra môi trƣờng. Nguồn gốc và thành phần của rác thải sinh hoạt 2.Nguồn gốc rác thải sinh hoạt Kinh tế phát triển, đời sống ngƣời dân cũng đƣợc nâng cao cùng với đó là sự gia tăng dân số dẫn đến lƣợng rác thải phát sinh từ sinh hoạt ngày càng tăng. Trong đó nguồn phát sinh bao gồm: sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng nhƣ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. Theo Nguyễn Trung Việt và Trần Thị Mỹ Diệu (2007): “Các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: + Từ các khu dân cƣ; n 4 + Từ các trung tâm thƣơng mại; + Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trƣờng học, các công trình công cộng; + Từ các dịch vụ đô thị, sân bay; + Từ các trạm xử lý nƣớc thải và từ các ống cống thoát nƣớc của thành phố; + Từ các khu công nghiệp” 2.Thành phần rác thải sinh hoạt Khác với rác thải, phế thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợp không đồng nhất.
Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát đƣợc của các nguyên liệu ban đầu dùng cho sinh hoạt và thƣơng mại. Sự không đồng nhất này tạo ra một số đặc tính khác biệt trong thành phần của rác thải sinh hoạt. Ở các nƣớc phát triển, do mức sống của ngƣời dân cao nên tỷ lệ thành phần hữu cơ trong rác thải sinh hoạt thƣờng chỉ chiếm 35 - 40%, còn ở Việt Nam tỷ lệ hữu cơ cao hơn rất nhiều từ 55 - 65%. Trong thành phần rác thải sinh hoạt còn có các cấu tử phi hữu cơ (kim loại, thủy tinh, rác xây dựng…) chiếm khoảng 12- 15%.
Phần còn lại là các cấu tử khác (Nguyễn Xuân Thành, 2011). Phân loại rác thải sinh hoạt Rác thải sinh hoạt đƣợc phân loại theo các cách sau: 2.Theo nguồn phát sinh - Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cƣ, các trung tâm dịch vụ, công viên. - Chất thải công nghiệp: phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí) - Chất thải xây dựng: là các phế thải nhƣ đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra. Chất thải nông n 5 nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trƣớc và sau thu hoạch.Theo mức độ nguy hại - Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng.
Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe dọa sức khỏe con ngƣời và sự phát triển của thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc và không khí. - Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có tính chất nguy hại. Thƣờng là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị.Phân loại theo thành phần - Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ nhƣ tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng nhƣ gạch, vữa, thủy tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình. - Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ nhƣ thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật.Phân loại theo trạng thái chất thải - Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng (kim loại, hóa chất sơn, nhựa, thủy tinh, vật liệu xây dựng.) - Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bón từ cống rãnh, bể phốt, nƣớc thải từ nhà máy lọc dầu, rƣợu bia, nƣớc từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp.
n 6 - Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu.1 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt Rác khi thải vào môi trƣờng gây ô nhiễm, đất, nƣớc, không khí. Ngoài ra, rác thải còn làm mất vệ sinh công cộng, làm mất mỹ quan môi trƣờng. Rác thải là nơi trú ngụ và phát triển lý tƣởng của các loài gây bệnh hại cho ngƣời và gia súc. Rác thải ảnh hƣởng tới môi trƣờng nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và trình độ giác ngộ của mỗi ngƣời dân.
Khi xã hội phát triển cao, rác thải không những đƣợc hiểu là có ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng mà còn đƣợc hiểu là một nguồn nguyên liệu mới có ích nếu chúng ta biết cách phân loại chúng, sử dụng theo từng loại (Lê Văn Khoa, 2010).Ảnh hưởng đến môi trường không khí Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thƣờng là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lƣợng rác thải ra. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mƣa nhiều ở nƣớc ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con ngƣời. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thƣờng là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2 (Lê Văn Khoa, 2010).Ảnh hưởng đến môi trường nước Theo thói quen nhiều ngƣời thƣờng đổ rác tại bờ sông, hồ, ao, cống rãnh. Lƣợng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lƣợng nƣớc mặt, nƣớc ngầm trong khu vực.
Rác có thể bị cuốn trôi theo nƣớc mƣa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nƣớc mặt ở đây bị nhiễm bẩn. n 7 Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nƣớc gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nƣớc. Hậu quả của hiện tƣợng này là hệ sinh thái nƣớc trong các ao hồ bị huỷ diệt. Việc ô nhiễm các nguồn nƣớc mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ trực khuẩn thƣơng hàn,ảnh hƣởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng (Lê Văn Khoa, 2010).Ảnh hưởng của rác thải tới môi trường đất Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải đƣợc đƣa vào môi trƣờng thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất nhƣ: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xƣơng sống, ếch nhái.
làm cho môi trƣờng đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 - 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các "bức tƣờng ngăn cách" trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ, tổng hợp các chất dinh dƣỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút (Lê Văn Khoa, 2010).