Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác trả lương trong tổ chức Chương 2: Thực trạng công tác trả lương ở Tổng công ty Truyền thông Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác trả lương ở Tổng công ty Truyền thông 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRẢ LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và bản chất của tiền lƣơng Khi nghiên cứu tiền lương trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác chỉ rõ về bản chất, tiền lương là giá cả sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả lao động. Cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế, quan niệm về tiền lương cũng có những thay đổi. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương được định nghĩa là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho công nhân viên căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động mà họ cống hiến.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Vân Điềm (2014): “Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo giá trị sức lao động mà họ hao phí trên cơ sở thỏa thuận (theo hợp đồng lao động).” Liên quan đến tiền lương còn có một số khái niệm cần nắm rõ như sau: - “Tiền lương tối thiểu: là tiền lương trả cho người lao động giản đơn nhất, trong điều kiện bình thường của xã hội. Tiền lương tối thiểu được pháp luật bảo vệ.
Tiền lương tối thiểu có những đặc trưng cơ bản sau đây: + Được xác định ứng với trình độ lao động giản đơn nhất. + Tương ứng với cường độ lao động nhẹ nhàng nhất trong điều kiện lao động bình thường. + Đảm bảo nhu cầu tiêu dùng ở mức độ tối thiểu cần thiết. + Tương ứng với giá tư liệu sinh hoạt chủ yếu ở vùng có mức giá trung bình.” - “Tiền lương danh nghĩa: là số lượng tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành một khối lượng công việc nhất định.
Được quy định trong thang lương, bảng lương hay bất kỳ một mức nào do các bên thỏa 6 thuận không trái pháp luật.” - “Tiền lương thực tế: biểu hiện qua số lượng hàng hóa, dịch vụ mà người lao động có thể mua được từ tiền lương danh nghĩa phục vụ cho cuộc sống của bản thân và gia đình. Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện qua công thức sau đây: Wm WR = CPI Trong đó: WR: Tiền lương thực tế Wm : Tiền lương danh nghĩa CPI: Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dung và dịch vụ” Muốn cho thu nhập của người lao động tăng lên thì chỉ số tiền lương danh nghĩa phải tăng nhanh hơn chỉ số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ.2 Các chức năng cơ bản của tiền lƣơng 1. Chức năng tái sản xuất sức lao động Theo Nguyễn Thị Mai Lan (2012): “Cùng với quá trình tái sản xuất của cải vật chất, sức lao động cũng cần phải được tái tạo. Quá trình tái sản xuất sức lao động được thực hiện bởi việc trả công cho người lao động thông qua tiền lương.
Sức lao động là sản phẩm chủ yếu của xã hội, nó luôn luôn được hoàn thiện và phát triển nhờ thường xuyên được duy trì và khôi phục”. Như vậy bản chất của tái sản xuất sức lao động nghĩa là đảm bảo cho người lao động có một số lượng tiền lương sinh hoạt nhất định để họ có thể: - Duy trì và phát triển sức lao động của chính mình. - Sản xuất ra sức lao động mới. - Tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ để hình thành kỹ năng lao động, tăng cường chất lượng lao động.
Chức năng là đòn bẩy kinh tế “Thực tế cho thấy rằng khi được trả công xứng đáng thì người lao động sẽ làm việc tích cực, sẽ không ngừng hoàn thiện mình hơn nữa và ngược lại, nếu người lao động không được trả lương xứng đáng với công sức của họ bỏ ra thì sẽ có những 7 biểu hiện tiêu cực không thuận lợi cho lợi ích của doanh nghiệp.” “Ở một mức độ nhất định thì tiền lương là một bằng chứng thể hiện giá trị, địa vị và uy tín của người lao động trong gia đình, tại doanh nghiệp cũng như ngoài xã hội. Do đó cần thực hiện đánh giá đúng năng lực và công lao động của người lao động đối với sự phát triển của doanh nghiệp, để tính tiền lương trở thành công cụ quản lý khuyến khích vật chất và là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Chức năng điều tiết lao động “Trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển cân đối giữa các ngành, nghề ở các vùng trên toàn quốc, nhà nước thường thông qua hệ thống thang bảng lương, các chế độ phụ cấp cho từng ngành nghề, từng vùng để làm công cụ điều tiết lao động. Nhờ đó tiền lương đã góp phần tạo ra một cơ cấu hợp lý tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội.
Chức năng thước đo hao phí lao động xã hội “Khi tiền lương được trả cho người lao động ngang với giá trị sức lao động mà họ bỏ ra trong quá trình thực hiện công việc thì xã hội có thể xác định chính xác hao phí lao động của toàn thể cộng đồng thông qua tổng quỹ lương cho toàn thể người lao động. Điều này có nghĩa trong công tác thống kê, giúp nhà nước hoạch định các chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo hợp lý thực tế luôn phù hợp với chính sách của nhà nước.Chức năng công cụ quản lý nhà nước “Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, người sử dụng lao động chịu sức ép từ chi phí sản xuất và kết quả kinh doanh. Họ thường tìm mọi cách có thể để làm giảm thiểu chi phí, bao gồm cả tiền lương trả cho người lao động. Bộ luật lao động ra đời, trong đó có chế độ tiền lương nhằm bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, tăng hiệu quả sử dụng và quản lý lao động (Đặng Đức 8 San, 1996).
Nguyên tắc tổ chức tiền lƣơng 1.1 Nguyên tắc trả lương ngang nhau cho lao động ngang nhau “Khi lao động có chất lượng ngang nhau thì tiền lương phải trả ngang nhau. Nói cách khác, khi hai hay nhiều lao động cùng làm một công việc, thời gian, tay nghề và năng suất lao động như nhau thì tiền lương được hưởng phải như nhau, không phân biệt chủng tộc, giới tính, tuổi tác,… Chế độ xã hội hiện nay, nguyên tắc này không mất đi mà tiếp tục tồn tại. Thực hiện nguyên tắc này giúp cho người lao động yên tâm cống hiến trong lĩnh vực mình công tác.2 Nguyên tắc đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng lương bình quân “Tiền lương bình quân tăng chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản do nâng cao năng suất lao động như nâng cao trình độ lành nghề, giảm bớt thời gian tổn thất cho lao động. Còn năng suất lao động tăng không phải chỉ do những nhân tố trên mà còn trực tiếp phụ thuộc vào các nhân tố khách quan như: áp dụng kỹ thuật mới, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, tổ chức tốt lao động và các quá trình sản xuất.
Như vậy, tốc độ tăng năng suất lao động rõ ràng có điều kiện khách quan để lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân.3 Nguyên tắc đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa các ngành, các vùng và các đối tượng trả lương khác nhau “Nguyên tắc này là nguyên tắc bổ sung cho nguyên tắc thứ nhất: trả lương ngang nhau cho lao động ngang nhau. Khi lao động có số lượng và chất lượng khác nhau thì tiền lương được trả phải khác nhau. Để có sự phân biệt trong trả lương đòi hỏi phải xác định chính xác cả số lượng và chất lượng lao động. Chất lượng lao động khác nhau thường được thể hiện qua: - Trình độ lành nghề bình quân khác nhau - Điều kiện lao động khác nhau - Vị trí quan trọng của từng ngành trong nền kinh tế quốc dân - Sự khác biệt giữa các vùng về điều kiện sống” 1.
Nội dung công tác trả lƣơng 1. Lập kế hoạch và quản lý quỹ lương 9 1. Lập kế hoạch quỹ lương trong doanh nghiệp Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu (2014): “Tổng quỹ lương hay còn gọi là quỹ lương của doanh nghiệp là toàn bộ các khoản tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho người lao động làm việc, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh trong từng thời kỳ của doanh nghiệp.” Để lập kế hoạch quỹ lương, doanh nghiệp có thể vận dụng các phương pháp khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp như sau: a. Phương pháp dựa vào mức lương thịnh hành trên thị trường lao động “Đây là phương pháp gắn chặt với thị trường, nhất là thị trường lao động.
Theo đó, các nhà lập kế hoạch quỹ lương phải tìm hiểu và nắm chắc giá cả thị trường đối với các loại lao động mà cơ quan, doanh nghiệp sẽ sử dụng, từ đó tính số lao động và số tiền cần thiết để trả cho người lao động theo giá cả thị trường. Khi áp dụng phương pháp này phải chú ý: - Hiện nay, giá cả sức lao động trên thị trường thường cao hớn mức các tổ chức, doanh nghiệp trả. Vì vậy, nếu trả theo thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng doanh thu trên cơ sở số lao động không đổi. Tuy nhiên, có những loại lao động mà doanh nghiệp cần thu hút ( lao động kỹ thuật cao như kỹ sư công nghệ thông tin, các nhà quản lý, kinh doanh giỏi,…) có thể được trả cao hơn giá thị trường nhưng số lượng đó thường không lớn.
- Trên thị trường lao động ở nước ta không phải mặt hàng nào cũng có. Có nhiều mặt hàng có trong doanh nghiệp nhưng không có trên thị trường lao động, do đó doanh nghiệp không thể dựa vào giá cả thị trường lao động để tính lương cho mọi loại lao động có ở doanh nghiệp. Mặt khác, giá cả sức lao động trên thị trường lao động thường mang tính tự phát, không thống nhất và không được dự báo trước.