Chương 1: Cơ sở lý luận và thưc ễn ti về chuyển di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p Chương 2: Thực trạng chuyển di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p ở tỉnh Hưng Yên Chương 3: Giải pháp đ ẩy mạnh chuyển di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p ở tỉnh Hưng Yên trong thời gian tới 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THƢC TI ỄN VỀ CHUYỂN DICH ̣ CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về chuyể n dich ̣ cơ cấ u kinh tế nông nghiêp̣ 1. Khái niệm cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p và chuyể n dich ̣ cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p 1. Khái niệm cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p Cơ cấu kinh tế là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Theo C.
Mác, cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành với vị trí, tỷ trọng tương ứng của mỗi bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Theo quan điểm duy vật biện chứng, cơ cấu kinh tế là tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, những tương tác qua lại cả về số lượng, chất lượng trong những không gian, thời gian và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, vận động theo mục tiêu nhất định. Cũng có quan điểm khác cho rằng cơ cấu kinh tế là mối quan hệ giữa các bộ phận khác nhau của tổng thể kinh tế được nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Như vậy, dù tiếp cận theo cách nào, thì cơ cấu kinh tế cũng đều thể hiện mối quan hệ và tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nên nó.
Cấu thành của nền kinh tế được tiếp cận theo nhiều hướng khác nhau như ngành, vùng, thành phần kinh tế. Theo đó, có cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng, cơ cấu kinh tế thành phần. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, là một trong ba bộ phậncấu thành CCKT các ngành kinh tế quốc dân, có quan hệ chặt chẽ, tác động hỗ trợ qua lại với hai ngành công nghiệp và dịch vụCơ cấu kinh tế nông nghiệp đươ ̣c xem dưới nhiề u góc đô ̣ .Theo nghĩa rộng, nông nghiệp được cấu thành bởi ba chuyên ngành: nông nghiệp thuần (hoặc nông nghiệp theo nghĩa hẹp), lâm nghiê ̣p và thủy sản. Nông nghiê ̣p nghiã he ̣p bao gồm các chuyên ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ.
Mỗi chuyên ngành này lại bao gồm các chuyên ngành chi tiết hơn 7 (tiểu ngành bộ phận). Chẳng hạn, chuyên ngành trồng trọt bao gồm: trồng cây lương thực, thực phẩm, trồng cây công nghiệp… Lâm nghiệp bao gồm các chuyên ngành: trồng rừng, khai thác gỗ, lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ lâm nghiệp (chuyên ngành này rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái). Thủy sản bao gồm các chuyên ngành: nuôi trồng và đánh bắt thủy, hải sản ở các vùng biển ven bờ, sông, hồ. Các chuyên ngành này tồn tại trong mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau trong khu vực SXNN hợp thành một cơ cấu, gọi là cơ cấu các ngành KTNN.
Cơ cấ u KTNN cònđược xem xét trong cấu trúc vùng. Do điều kiện đặc thù về thổ nhưỡng, khí hậu, tập quán canh tác và nhu cầu mà mỗi vùng lãnh thổ có thể nhất định trong khi các vùng khác không thể sản xuất được hoặc có sản xuất nhưng năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp. Tính đa dạng về điều kiện tự nhiên, KT-XH là những yếu tố thúc đẩy chuyên môn hóa SXNN theo vùng sinh thái, từ đó xuất hiện nhu cầu liên kết sản xuất các vùng sản xuất khác nhau để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, làm hình thành CCKT vùng nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng được xem xét trong cấu trúc thành phần kinh tế.
Sự phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp còn thấp và không đồng đều là nhân tố làm ra đời và tồn tại các chủ thể nông nghiệp với những quan hệ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất khác nhau, có quan hệ tác động qua lại và phụ thuộc vào nhau làm ra đời và tồn tại cơ cấu KT-XH và được gọi là cơ cấu thành phần kinh tế trong nông nghiệp. Ngoài ra, CCKTNN còn được xem xét trên các khía cạnh cơ cấu về trình độ công nghệ, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp, cơ cấu mùa vụ chịu sự chi phối bởi chu kỳ sinh vật, cơ cấu sản phẩm theo hướng thị trường (cơ cấu xuất, nhập khẩu hàng nông sản)… Tuy có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về CCKTNN, nhưng có thể hiểu tổng quát: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các bộ phận hợp thành ngành nông nghiệp, các bộ phận này được xác định trong mối quan hệ tỷ lệ về chất lượng và số lượng giữa các yếu tố cấu thành tổng thể ngành nông nghiệp. CCKTNN cũng được xem xét cả về chất lượng và số lượng, cả về quy mô sản xuất và lực lượng lao 8 động làm việc trong các bộ phận cấu thành CCKTNN. Nó có thể được xem xét trên cấp độ tổng thể nền kinh tế quốc gia hoặc xem xét ở cấp độ vùng lãnh thổ, cấp tỉnh, cấp huyện.
Tỷ lệ của mỗi bộ phận là sự phản ánh vị thế của nó tham gia vào ngành nông nghiệp trong mối quan hệ với các bộ phận khác. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp không phải là một hệ thống tĩnh bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, biến đổi không ngừng theo sự phát triển củacác chuyên ngành tạo nên quá trình chuyển dịch CCKTNN.Chenery (1988), khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên tục của tổng sản phẩm quốc dân, bao gồm sự tích luỹ của vốn vật chất và con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Trong quá trình này, có sự thay đổi về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản trên quy mô cả nước, trong các vùng kinh tế- sinh thái hay trong phạm vi một tỉnh, một huyện; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các chủ thể tham gia vào sản xuất, kinh doanh trong các chuyên ngành ở các địa bàn này; thay đổi về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như công nghiệp và dịch vụ cung ứng đầu vào cho SXNN, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ hàng nông sản. Quá trình làm thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các chuyên ngành trong nông nghiệp như trên gọi là chuyển dịch CCKTNN.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình khách quan làm thay đổi cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ và chất lượng các mối quan hệ kinh tế giữa các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế… trong hoạt động sản xuất nông nghiệp theo một chiều hướng nhất định, ở một giai đoạn phát triển nhất định, nhằm đạt tới một cơ cấu hợp lý hơn, tạo thế và lực mới cho tăng trưởng và phát triển KT-XH. Chuyển dịch CCKTNN là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, tỷ lệ giá trị và tỷ lệ lao động tham gia các chuyên ngành, tiểu ngành trong hoạt động SXNN. Có hai xu hướng chuyển dịch CCKTNN trái chiều nhau, đó là: chuyển dịch 9 theo hướng hợp lý, tiến bộ và xu hướng chuyển dịch theo hướng bất hợp lý, lạc hậu. Trong những năm gần đây, để thúc đẩy quá trình chuyể n dịch CCKTNN theo hướng hợp lý, tiến bộ, một số nước trong đó có Việt Nam đã tiến hành “tái cơ cấu nông nghiệp”.
Ở Việt Nam, thuật ngữ Tái cơ cấu nông nghiệp được ghi trong Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề xuất và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013. Khái niê ̣m hay quan điể m về tái cơ cấu ngành nông nghiệp: “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp là một hợp phần của tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để bảo đảm phát triển bền vững; phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu của ngành. Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường, vừa phải đảm bảo các mục tiêu cơ bản về phúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; đồng thời, chú trọng đáp ứng các yêu cầu về xã hội.” Tái cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p là những thay đổ i có tin ́ h bu ̛ớc ngoặt về co ̛ chế , chính sách kinh tế trong nông nghiệp để đạt đu ̛ợc những mục tie ̂u kinh tế - xã hội đặt ra; là tạo ra mọ ̂t cơ cấ u kinh tế hơ ̣p lí trong ngành nông nghiê ̣p , đặc biệt là cơ cấ u ngành, cơ cấ u khu vực kinh tế sở hữu hơ ̣p lí. Có thể nói, tái cơ cấ u nề n kinh ́ h phủ chủ đọ ̂ng thực hiện chuyể n dich tế nông nghiê ̣p là quá triǹ h Chin ̣ co ̛ cấ u kinh tế , ban hành các chính sách về tài chính , tiề n tệ, các chính sách về hành chính , kinh tế và sử du ̣ng các công cu ̣ thuộc chức năng, nhiệm vu ̣ của min ̀ h.
Xu hướng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quá trình chuyển dịch CCKTNN được con người nhận thức để chủ động lựa chọn giải pháp, chính sách phát triển. Xét về nguồn gốc sâu xa, chuyển dịch CCKTNN là một hiện tượng có tính quy luật của quá trình phát triển. Nông nghiệp là hoạt động sản xuất đầu tiên của con người. Lúc đầu chưa có sự phân ngành, đến cuộc phân công LĐXH lần thứ nhất chăn nuôi tách khỏi trồng 10 trọt và bắt đầu có sự trao đổi giữa các bộ lạc trồng trọt và bộ lạc chăn nuôi - hai ngành trồng trọt và chăn nuôi manh nha hình thành.