mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, chương trình đáp ứng yêu cầu của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả. Chương trình truyền hình đề cập tới các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường truyền tải các thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ một đối tượng công chúng xác định. Nội dung của chương trình truyền hình làm sâu 15 sắc thêm một cách trực tiếp những tư tưởng, chủ đề, dần dần tạo thói quen trong ý thức công chúng. Như vậy có thể hiểu, chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ.
Đồng thời đó cũng là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội. Chương trình truyền hình là cầu nối giữa công chúng và những người làm truyền hình. Bat kỳ một chương trình truyền hình nào cũng hàm chứa những giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù của dân tộc, quốc gia, giai cấp hay tang lớp xã hội rộng rãi. Những giá trị này không chỉ được chuyển tải qua nội dung mà còn biểu hiện cả trong phương pháp sáng tạo và hình thức thể hiện.
Truyền hình văn hoá, giải trí Giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng nhu cầu phát triển của con người về thé chất, trí tuệ và mĩ học. Nó không chỉ là nhu cầu của mỗi cá nhân mà là nhu cầu của đời sống cộng đồng. Nhu cầu giải trí là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần, xuất hiện để đáp ứng những đòi hỏi bức thiết từ phía cá nhân thường là sự căng thắng tinh thần trong cuộc sống. Nhu cầu giải trí thuộc các bậc cao của thang nhu cầu con người, nó không gan liền với sự tôn tai sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thỏa mãn nhu cầu tỉnh thần, tự hoàn thiện và tự khang định mình.
Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động dé thỏa mãn nhu cầu đó. Hoạt động giải trí rất quan trọng đối với con người. Chúng giúp con người thoát khỏi những phiền muộn của cuộc sống và mang đến cho con người những khoảnh khắc thú vị.
Giải trí cũng giúp cho con người hình thành tư duy, thói quen và những giá trị nhân đạo qua những hoạt động giải trí lành mạnh cụ thể. Nó mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động còn lại. Nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội. Hoạt động giải trí là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện.
Nó đồng thời là những hoạt động không mang tinh vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thang tinh than dé đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hôn va cao hơn, đó là sự rung cảm vê thâm mĩ. Trong cuộc sông, con người 16 luôn luôn hoạt động không ngừng nghỉ xoay quanh cuộc sống cá nhân, cuộc sống gia đình, cuộc sống xã hội nên áp lực công việc, học tập, áp lực gia đình, xã hội sẽ khiến thần kinh căng thắng. Vì vậy cuộc sống con người không thể thiếu hoạt động giải trí. Giải trí là hoạt động diễn ra trong thời gian rỗi, nhưng không phải bat cứ hoạt động nào được thực hiện trong thời gian rỗi đều là giải trí (ví dụ là cả quan xá, rượu chè.
Hoạt động giải trí là những hoạt động của con người nhằm nâng cao đời sống văn hóa tỉnh thần và phát triển toàn diện của con người. Việc sử dụng thời gian nhàn rỗi đã kéo theo quá trình hình thành một nền văn hóa đại chúng, phục vụ quần chúng được sử dụng sâu rộng trong các vùng khác nhau trong quá trình phát triển công nghệ và sản xuất hàng loạt. Thời gian nhàn rỗi lúc này đã trở thành một bộ phận của cuộc sống người dân trong xã hội văn hóa đại chúng. Trong luận án tiến sỹ của minh, tác giả Dinh Thi Vân Chi (2001) khang định triển vọng của xã hội hậu công nghiệp sẽ là một “xã hội giải trí”, trong đó, thời gian lao động được rút ngắn tối thiểu, thời gian nhàn rỗi được tăng lên, mối quan tâm của xã hội không phải là làm gì dé sống, mà là, làm thé nào dé giải trí tốt hơn.
Các PTTTDC vừa là một loại hình văn hóa, vừa là một phương thức chuyên tải văn hóa, tạo nên nhiều hoạt động giải trí cơ bản của con người như vui chơi giải trí bằng đọc (xem): sách, báo, tranh ảnh, triển lãm; vui chơi giải trí bằng nghe: nghe nhạc; vui chơi giải trí bằng nghe-nhìn. Trong xã hội công nghiệp và thị trường, các quan hệ trong hoạt động vui chơi giải trí chuyển đôi mạnh sang sản xuất hang hóa, biến các hoạt động giải trí có thé lưu thông trên thị trường, và đem lại lợi nhuận cho các chủ thể của nó trong tổ chức hoạt động giải trí. Hiện có nhiều khái niệm khác nhau về truyền hình giải trí, theo Top 10 chương trình truyền hình giải trí hay nhất Việt Nam hiện nay thì “Chương trình truyền hình giải trí là một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đời sống của mỗi người dân bởi sau những giờ làm việc vất vả và mệt nhọc, họ muốn xem các chương trình mang lại tiếng cười và niềm vui”. Định nghĩa này đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh.
Đây chính là đặc 17 trưng của truyền hình. Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình giải trí là điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình giải trí những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình giải trí có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình. Cho dù có những khác biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình giải trí vẫn có chung một cơ sở ngôn ngữ cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin.
Cũng vì truyền hình giải trí có đặc tính riêng nên việc xây dựng một chương trình truyền hình giải trí khó khăn hơn so với các loại hình báo chí khác. Đội ngũ những người tham gia làm chương trình truyền hình giải trí mang tính tập thể cao, bao gồm sự tham gia của biên tập viên, phóng viên, đạo diễn, quay phim, họa sỹ, kỹ thuật viên và các bộ phận hành chính hỗ trợ khác dưới sự điều hành tổ chức chặt chẽ của một cơ chế thống nhất. Chương trình truyền hình giải trí là khái niệm được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong lĩnh vực truyền hình. Bat kỳ một chương trình truyền hình giải tri nào cũng hàm chứa những giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù của dân tộc, quốc gia, giai cấp hay tang lóp xã hội rộng rãi.
Những giá trị này không chỉ được chuyển tải qua nội dung mà còn biểu hiện cả trong phương pháp sáng tạo và hình thức thể hiện. Quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với việc truyền thông văn hóa - giải trí trên báo chí Trong 30 năm đôi mới, Dang đã ban hành 29 nghị quyết, kết luận, chỉ thị về các khía cạnh liên quan đến văn hóa. Nghị quyết “Xây dung và phát triển nén văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ma Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bé sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Dai hội X (2006) đã nhân mạnh: “7iép tuc phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nên văn hóa tiên tiễn, đậm đà bản sắc dân tộc, gan kết chặt chẽ và đông bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thâm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sông xã hội”.
18 Báo chí là một bộ phận cấu thành quan trọng trong toàn bộ công tác tư tưởng, văn hoá của Dang; là một trong những công cu sắc bén, hiệu quả để xây dựng, bồi đắp nền tảng tư tưởng chính tri của Dang; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, động viên, cô vũ, tô chức nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, là chiếc cầu hữu nghị dé Việt Nam mở rộng giao lưu, hội nhập với thé giới.Xuất phat từ vai trò to lớn, quan trọng của báo chí đối với đời sống xã hội, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin khang định: Báo chí có tính giai cấp, tính đảng, tính nhân dân, tính văn hóa. Đảng cách mạng phải lãnh đạo báo chí cách mạng, đó là nguyên tắc bat di bat dịch. Cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam, hệ thống văn bản pháp luật về báo chí được bé sung và từng bước hoàn thiện. Day là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng, bảo đảm cho các cơ quan báo chí, xuất bản hoạt động theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích đã được xác định.
Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chỉ thị, nghị quyết mở đường cho hoạt động xã hội hóa một số lĩnh vực trong đời sống xã hội. Sau gần 20 năm triển khai Nghị quyết 90/CP (ngày 21/8/1997), công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và thé duc thé thao đã thu được những kết quả quan trọng, tuy nhiên việc xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa được triển khai một cách thận trọng. Riêng trong lĩnh vực phát thanh- truyền hình, phải đến năm 2005, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đây mạnh việc xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, việc xã hội hóa sản xuất các chương trình phát thanh - truyền hình mới phát triển một cách rõ nét và mạnh mẽ.