CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN VE TRUYEN THONG KHOA HỌC VA CÔNG NGHỆ 1.1 Khái niệm cơ bản về truyền thông khoa hoc và công nghệ 1. Khái niệm về khoa học và công nghệ Khái niệm về khoa học Thuật ngữ “khoa học” xuất hiện từ rất sớm, nó phản ánh một hình thức sáng tạo đặc biệt, một lĩnh vực hoạt động có vi tri hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Từ lâu người ta đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về khoa học. Trên thế giới, có một khái niệm về khoa học như sau: Khoa hoc 1a toàn bộ hoạt động có hệ thống nhăm xây dựng và tô chức kiến thức dưới hình thức những lời giải thích và tiên đoán có thê kiểm tra được về vũ trụ.
Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, rồi sắp xếp các thông tin đó thành đữ liệu để phân tích nhăm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm nhằm mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích lũy được. Định nghĩa về khoa học được chấp nhận phổ biến rằng khoa hoc là tri thức tích cực đã được hệ thống hóa.
Ở Việt Nam, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khoa học. Theo giáo trình Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Đàm thì: Khoa học là một hệ thống tri thức, bao gồm: Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. ! Khoa học và các khoa học: La science et les sciences. Gilles-Gaston Granger; Phan Ngọc, Phan Thiéu dịch.
Nhà xuât bản Thê giới, 1995, 147tr 15 Theo Luật khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 thì khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tỒn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội vả tư duy. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm khoa học theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ. Khái niệm về công nghệ Theo Ủy ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương ( ESCAP) đưa ra: công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và thông tin. Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng.
Thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ. Định nghĩa về công nghệ của ESCAP được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng công nghệ mà khái niệm công nghệ được mở rộng ra tất cả lĩnh vực hoạt động xã hội. Theo các tai liệu nghiên cứu của Phó Giáo sư Tiến sĩ Vũ Cao Dam thì có 3 khái niệm về công nghệ: Khai niệm 1: “Công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác cua quá trình chế biên vật chất/thông tin Khai niệm 2: “Công nghệ là một phương tiện (device) chế biến vật chất/thông tin, gồm: Phan cứng và Phan mềm ”.
Khai niệm 3 (Mô hình Sharif): “Công nghệ là một cơ thể (hệ thong) tri thức về quá trình chế bién vật chất hoặc thông tin về phương tiện và phương pháp chế bién vật chất và/hoặc thông tin. Công nghệ gom 4 yếu to: Kỹ thuật (Technoware); Thông tin (Inforware); Con người (Humanware); T6 chitc (Orgaware) Theo Luật khoa hoc và công nghệ số 29/2013/QH13 thi Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản pham. 16 Cũng như ở khái niệm khoa học, trong phần này tác giả cũng sử dụng khái niệm công nghệ theo cách tiếp cận có chọn lọc của văn bản Luật khoa học và công nghệ. Tức là: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản pham có độ tin cậy.
Sản phẩm ở đây bao gồm các dạng: dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ là mục tiêu) và sản phẩm cụ thé được sản xuất từ dây chuyền công nghệ (dây chuyền công nghệ đóng vai trò là phương tiện sản xuất). Đặc điển công nghệ: Qua khái niệm về công nghệ ở trên ta thấy: Trước đây cách hiểu truyền thống về công nghệ đồng nhất kỹ thuật với thiết bị không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thường được dùng thay cho thuật ngữ kỹ thuật. Với nội dung như vậy, công nghệ đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi nó đang thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. Khác với khoa học, các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp? và do đó nó là thứ hàng dé mua bán.
Nghị định số 63/CP của Thủ tướng Chính phủ quy định 5 đối tượng được bảo hộ ở Việt nam đó là: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghệ, nhãn hiệu hang hoá và tên gọi, xuất xứ hàng hoá. Mới quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yêu, nhưng đã phát trién đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất. Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người dé sáng tạo cải tiễn các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuât và các hoạt động khác.
17 Ngày nay, không thê tách rời công nghệ khỏi khoa học cũng như không thé nói đến khái niệm khoa học mà lại không bao hàm trong nó khái niệm công nghệ. Song điều đó hoàn toàn không có nghĩa là bất cứ nền khoa học tiên tiến sẽ có một trình độ công nghệ tiên tiễn xét trong phạm vi từng khu vực, từng quốc gia, từng ngành cụ thé. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được phát triển qua các giai đoạn khác nhau của lịch sử. Vào thế ki XVII - XVIII khoa học công nghệ tiến hoá theo những con đường riêng có những mặt công nghệ đi trước khoa học.
Vào thế kỉ XIX khoa học công nghệ bat dau có sự tiếp cận, mỗi khó khăn của công nghệ gợi ý cho sự nghiên cứu của khoa học và ngược lại những phát minh khoa học tạo điều kiện cho các nghiên cứu, ứng dụng. Sang thé ki 20 khoa học chuyển sang vị trí chủ đạo dẫn dắt sự nhảy vọt về công nghệ. Ngược lại sự đôi mới công nghệ tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học tiếp tục phát triển. Khái niệm truyền thông và truyền thông vê khoa học và công nghệ Khái niệm truyén thông: Truyền thông bao hàm ý nghĩa hết sức rộng lớn.
Hiện nay trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Song khái niệm chung nhất, phô biến nhất về truyền thông là: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng, nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đôi trong hành vi và nhận thức” Ở định nghĩa này cần lưu ý: + Truyền thông là một quá trình tức là không phải việc làm tức thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian hẹp, mà là một việc diễn ra trong thời gian lớn. Quá trình này mang tính liên tục, vì nó không thể kết thúc ngay sau ? Dương Xuân Sơn (chủ biên): Cơ sở lý luận báo chí và truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia HN, 2011 18 khi ta chuyền tải nội dung cần thiết mà còn tiếp dién sau day. Day là quá trình trao đổi, chia sẻ, nghĩa là ít nhất fai có hai thực thé và không phải là một bên cho một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận + Truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳquan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.
Và cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đôi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Khái niệm truyền thông về khoa học và công nghệ: Truyền thông khoa học và công nghệ là quá trình trao đổi liên tục những thông tin về khoa học và công nghệ giữa chủ thê truyền thông khoa học và công nghệ với công chúng, nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động khoa học và công nghệ, vai trò của khoa học và công nghệ đối với phát triển đất nước, là cầu nối cung - cầu giữa hoạt động khoa học và công nghệ với sản xuất và đời sống. Từ đó, góp phần tạo ra một xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới tận tụy nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ gắn với nhu cầu của đất nước, gan với hoan cảnh, môi trường hội nhập hiện nay; một xã hội văn minh biết tư duy khoa học trong các hoạt động. Như vậy, khái niệm về truyền thông về khoa học và công nghệ bao gồm: Chu thé truyền thông, nội dung truyền thông và phương pháp truyền thông và công chúng của truyền thông về khoa học và công nghệ, trong đó: Chủ thể truyền thông: Chính là nơi nguồn thông tin về khoa học và công nghệ được phát ra.
Nguồn thông tin này thường được cung cấp từ các cá nhân hoặc tô chức quản lý, nghiên cứu và thực hiện các hoạt động về khoa học và công nghệ. Cụ thê, trước kia, khi chương trình về khoa học và công nghệ mới ra đời, thì chủ thé chính là Bộ Khoa học và Công nghệ - là cơ quan đại diện cho toan bộ hoạt động quản lý, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ.