CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE THONG DIEP DU LICH TREN TRUYEN HINH 1. Một số khái niệm và lý thuyết liên quan đến đề tai 1. Thông điệp Có nhiều cách hiểu về khái niệm thông điệp. Trong tiếng Anh và tiếng Pháp, "message" nghĩa là "thông điệp".
Thuật ngữ thông điệp ở đây cũng được hiểu là lời phán truyền, truyền đạt, truyền thông. Tiếng Trung chữ “thông điệp” (tongdie) cũng mang nội dung tương tự. Theo Từ điển tiếng Việt thì “thông điệp” là “điều quan trọng muốn gửi gắm thông qua một hình thức hoạt động, một việc làm mang tính biểu trưng nào đó”, [20, tr.] Tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí truyền thông (2012) , nhận định “Thông điệp là tin tức được thể hiện bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bằng mực trên giấy, sóng trên không trung hoặc bang bat cứ tín hiệu nao mà người ta có thé hiểu được và được trình bày một cách có ý nghĩa. Điều quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận hiểu được.
Có thé là ngôn ngữ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, ngôn ngữ kỹ thuật trong khoa học, hay ngôn ngữ văn học trong nghệ thuật” [18, tr. Khái niệm này được hiểu thông điệp là một hệ thống các kí hiệu hàm chứa nội dung thông tin cụ thé. Hệ thống kí hiệu này phải được quy ước giữa người nói và người nhận và người nhận phải giải mã được các kí hiệu nảy. Tác giả Nguyễn Văn Dững (chủ biên), Đỗ Thị Thu Hang, trong cuốn Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản (2018), cho rằng: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận.
Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, ý kiến, hiểu biết, kinh nghiệm sống, tri thức khoa học - kỹ thuật. được mã hoá theo một hệ thống ký hiệu nào đó. Hệ thống này phải được cả bên phát và bên nhận cùng chap nhận và có chung cách việt - tức là có 15 khả năng giải mã. Tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ biểu đạt của con người được sử dụng dé chuyền tải thông diép”[4, tr.
Hai tác giả đã chỉ ra biểu hiện nội dung cốt lõi của thông điệp cũng như hình thức thê hiện thông điệp. Thông điệp nếu được truyền tải một cách tự nhiên thì dé thu hút người nhận. Ngôn từ, cách diễn dat trong thông điệp phải đơn giản, dé hiểu, dé làm theo và phù hợp với từng loại hình báo chí. Thông điệp trên truyền hình có ưu thế vượt trội trong việc tạo cảm giác tiếp xúc qua hình ảnh, màu sắc, lời nói, âm thanh dễ đi vào lòng công chúng tiếp nhận, vì vậy bằng sự nhanh nhạy của người làm báo, những chỉ tiết, sự việc xảy ra trong cuộc sống thường ngày, có ảnh hưởng và được công chúng quan tâm sẽ được truyền hình chuyền tải bằng những thông điệp gần gũi, sinh động dé gây hiệu ứng xã hội.
Thông điệp có nhiều loại: Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hang trong cuốn. Truyén thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, có thé chia thông điệp thành 4 loại: (1) Thông điệp đích là thông điệp của cả chiến dịch truyền thông hướng tới; (2) Thông điệp cụ thể (thông điệp bộ phận) loại thông điệp cấu thành thông điệp đích của chiến dịch truyền thong; (3) Thông điệp tài liệu là loại thông điệp ân chứa trong các tài liệu, dữ liệu. Loại thông điệp này dé nhận biết vì nó biéu hiện cụ thé, có thể nhìn thấy bang trực quan: (4) Thông điệp ấn là loại thông điệp mà nhận biết nó cần phải tư duy tích cực, năng lực trừu tượng hoá, cảm nhận tinh tế, liên tưởng với những van đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã và dang đặt ra. Theo mô hình truyền thông của Harold Lasswell, thông điệp được thể hiện như sau: ⁄Z ÀN NL” -S (Source): nguồn phát, ai là người cung cấp thông tin? -M (Message): thông điệp, nội dung thông điệp là gi? 16 -C (Channel): kênh phát thông tin, kênh nào được sử dụng và sử dụng như thế nào? -R (Receiver): người nhận, ai là người nhận? -E (Effect): hiệu quả của quá trình truyền thông, giúp cho người tiếp nhận thông tin thay đổi hành vi ra sao? Từ mô hình truyền thông của Harold Lasswell đã làm nền tảng cho các nghiên cứu về truyền thông ở những giai đoạn sau.
Tiếp theo đó, qua nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có Claude Shannon, quá trình truyền thông còn có yếu tố “phản hồi” (Feedback) và “nhiễu” (Noise). Trong đó, phản hồi là sự tác động ngược trở lại nguồn phát từ phía người tiếp nhận thông tin. Sự phản hồi có thể được xem là yếu tô quan trong làm cho quá trình truyền thông được diễn ra liên tục, là chứng minh cho tính hai chiều của truyền thông, truyền thông không áp đặt. Ở mô hình hai chiều mềm dẻo này, công chúng tiếp nhận đóng vai trò quyết định trong quá trình truyền thông.
Sự quyết định của công chúng không chỉ dừng ở việc tự do lựa chọn kênh truyền, tự do đón nhận thông điệp mà công chúng còn tham gia trực tiếp, trở thành một yếu tố trong mô hình truyền thông. Lúc này, bản thân công chúng trở thành một nguồn phát thông điệp, nếu họ muốn. Trong mô hình này, sự áp đặt chủ quan của chủ thể thông điệp có ý nghĩa rất ít đối với quy trình truyền thông. Mô hình truyền thông của Claude Shannon được thê hiện như sau: Nhiễu (Noise) "—-—.- Phản hồi (Feedback) Ngày nay, thuật ngữ “thông điệp” được sử dụng như một khái niệm then 17 chốt trong khoa học báo chí - truyền thông.
Trong báo chí, “thông điệp” mang ý nghĩa rộng lớn, có thé bằng chữ viết, hình ảnh, lời nói, kí ty. Nhưng điều quan trọng là tùy đối tượng hướng tới, “thông điệp” phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ dễ hiểu, dé nhớ va dé làm theo. Các thông điệp của truyền thông đại chúng mang tính chất công cộng, nghĩa là bất kỳ ai được tiếp cận thì sẽ biết đến thông điệp đó. Từ những nghiên cứu nêu trên kết hợp với thực tiễn có thể khái quát: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận”.
Trong truyền thông, thông điệp được hiểu là một phát ngôn hoàn chỉnh cả về nội dung và hình thức dành cho một nhóm đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu của chiến dịch truyền thông. Do đó, truyền thông phải chú ý theo dõi để làm mới thông điệp cả về nội dung và hình thức. Mỗi thông điệp đều có mục đích riêng nhưng yêu cầu chung là phải phù hợp với chính sách của Đảng, Nhà nước và các giá trị văn hóa — xã hội. Thông điệp về du lịch Trong thé giới phang với sự bùng nỗ của công nghệ thông tin như hiện nay, truyền thông càng khang định được vai trò trong việc tao ra các hiệu qua tức thi về thông tin đến công chúng.
Hơn nữa, đối với truyền thông trong du lịch thì luôn thay đổi theo từng thời điểm công chúng tiếp nhận thông điệp và không chỉ trước mắt mà còn cần có sự tiếp nhận hiệu ứng hoặc dư âm lâu dài hơn bởi phát triển du lịch cần có một thời gian vừa thực hiện vừa cải thiện phù hợp với kinh tế, xã hội từng giai đoạn của một quốc gia, một địa phương cụ thé. Do đó, thông điệp về du lịch đòi hỏi một quá trình thẩm thấu vào nhận thức của công chúng dé từ đó định hướng xây dựng các thông điệp truyền thông phủ hợp có cả hiệu lực và hiệu quả. Điều đó có nghĩa truyền thông cần thời gian. Chính vì vậy, việc xây dựng thông điệp du lịch là một việc cần thiết và những cơ quan báo chí truyền thông chú trọng kết hợp với các cơ quan, công ty du lịch thực hiện nhằm quảng bá tốt nhất đến công chúng.
Vậy dé hiểu rõ hơn tác giả muốn khái quát sơ lược về khái niệm “thông điệp du lịch” như sau: 1. Khái niệm thông điệp du lich 18 “Thông điệp du lịch” là một phần của quá trình truyền thông chuyên biệt dành riêng cho việc phát triển du lịch thông qua một hoặc nhiều kênh chuyền tải thông tin đến công chúng như truyền hình, báo in, báo điện tử.bằng cách kết hợp với cơ quan chuyên về du lịch xây dựng mục tiêu, kế hoạch băng những hoạt động ma cụ thể như các câu slogan nhằm hướng đến nhóm công chúng quan tâm tới việc đi du lịch, tìm hiểu, trải nghiệm văn hóa hoặc cũng có thể là quan tâm đến việc giải trí, nghỉ dưỡng tại một địa phương, hay quốc gia nào đó. Yêu câu tắt yếu của việc xây dựng thông điệp du lịch Dé xây dựng được kế hoạch truyền thông du lịch dai hạn, cần thiết phải có một kế hoạch phát triển. Chỉ khi nào chúng ta xác định được sẽ phát triển du lịch đến khu vực nào, chủ đề du lịch là gi, suc hap dẫn của điểm đến của sản phẩm du lịch ra sao và hướng tới đối tượng khách hàng, thị trường gì thì mới có thể xây dựng được kế hoạch truyền thông phù hợp.
Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng khung truyền thông trong việc quảng bá du lịch và tạo ra từng thông điệp phủ hợp cho mỗi giai đoạn. Tuy nhiên, để xây dựng được kế hoạch truyền thông cũng như tạo ra các thông điệp chỉ tiết thì cần phải chỉ tiết hóa chương trình phát triển du lịch theo từng giai đoạn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Bên cạnh việc cơ quan truyền thông chuyển tải, quảng bá các sản phẩm du lịch cho mỗi địa phương hay mỗi quốc gia trước mắt cần tính tới việc quảng bá cho những năm tiếp theo dé có sự tiếp nối, có thời gian dé thâm thấu vào nhận thức và điều chỉnh xu hướng của du khách, bảo dam tính bền vững, thúc đầy và duy trì. Hoạt động truyền thông, quảng bá du lịch rất đa dạng với nhiều kênh khác nhau; Có những kênh sẽ có tác dụng giới thiệu dé biết về điểm đến, vẻ đẹp và sức hấp dẫn của điểm đến; Có kênh có tác dụng giới thiệu những dịch vụ hậu cần, phụ trợ, tạo sự yên tâm của điểm đến; Có kênh giới thiệu những sản phẩm dịch vụ cụ thể để du khách dé dàng tiếp cận; Có kênh giới thiệu cảm xúc, cảm nhận, đánh giá khách quan cộng đồng dé tạo nên xu hướng, xu thé và trào lưu của công chúng.
Với các kênh truyền thông khi làm thông điệp du lịch phần chính là chủ động tạo ra và 19 làm chủ thông điệp đó.