Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng Thương Mại và hoạt động cho vay mua nhà dự án của các Ngân hàng Thương Mại + Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay mua nhà dự án tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Nam Thăng Long + Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay mua nhà dự án tại Vietinbank - Nam Thăng Long -3- CHƯƠNG1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ DỰ ÁN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Định nghĩa Ngân hàng thương mại Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: - Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.
- Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. - Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
NHTM là bộ phận lớn nhất trong hệ thống các trung gian tài chính nói chung và các tổ chức tín dụng nói riêng. Các dịch vụ truyền thống của NHTM là huy động tiền gửi chủ yếu ở dạng ngắn hạn, tài trợ thương mại chủ yếu dưới hình thức chiết khấu thương phiếu và làm dịch vụ thanh toán. Tuy nhiên, ngày nay dưới áp lực cạnh tranh và thị trường phát triển, các NHTM đã chuyển sang kinh doanh tổng hợp, thực hiện huy động vốn, cho vay và đầu tư, đồng thời cung cấp hầu như toàn bộ các dịch vụ ngân hàng khác. Chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng Trung gian tín dụng: + Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi, NHTM hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế.
+ Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay. NHTM đã biến vốn nhàn rỗi không sinh lời thành vốn đầu tư sinh lời cao, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển. -> Trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM vì nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác. - Chức năng Trung gian thanh toán: + Trong quan hệ kinh doanh thương mại, nếu khối lượng giao dịch lớn thì việc thanh toán sẽ gặp khó khăn và cần có một tổ chức đứng ra đảm nhiệm công việc này.
Ngân hàng tiến hành nhập tiền hay chi trả tiền theo lệnh của khách hàng, với chức năng này ngân hàng thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ từ đó làm tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội. Khi đó NHTM vừa là thủ quỹ vừa là trung gian thanh toán của khách hàng. + NHTM thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở thực hiện chức năng trung gian tín dụng. + Đối với NHTM chức năng này góp phần làm tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán.
Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM. - Chức năng Tạo tiền + Sự kết hợp giữa Chức năng Trung gian tín dụng và chức năng Trung gian thanh toán là cơ sở để NHTM tạo ra tiền tín dụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.
-5- + Quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hệ thống NHTM chứ bản than một NHTM không thể tạo ra được. Trong thực tế, khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM còn bị giới hạn bởi tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so với tiền gửi thanh toán của công chúng. - Kết luận: Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ, cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau. Đồng thời khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn, mở rộng hoạt động tín dụng.
Đặc điểm của ngân hàng thương mại - Đối tượng kinh doanh của NHTM là tiền tệ - là một hàng hóa đặc biệt. Đặc điểm của tiền tệ là rất nhạy cảm và dễ bị tác động ảnh hưởng bởi những biến động, những thay đổi của các yếu tố môi trường bên ngoài hoặc bên trong. - Nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn đi vay dưới hình thức tiền gửi. Bản chất của nó là nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi do đó tính ổn định tương đối thấp.
- Sử dụng vốn: Chủ yếu là cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính. Đó là hoạt động kinh doanh tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho mỗi ngân hàng, nhưng mức độ rủi ro của nghiệp vụ này rất cao và gần như không thể tránh được (do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến). - Cường độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng cao: cạnh tranh giữa các ngân hàng trong nước, với các ngân hàng nước ngoài và với các tổ chức tài chính phi ngân Iiang. - Khách hàng của các ngân hàng cũng có nhiều điểm khác biệt so với khách hàng của các xí nghiệp công nghiệp, thương mại và dịch vụ khác đó là: họ có quan hệ tiếp tục, thường xuyên, gắn bó mật thiết và lâu dài với ngân hàng, do đó nhiều người cho rằng họ là những thân chủ của ngân hàng.
-6- - Sản phẩm ngân hàng là những dịch vụ tài chính với những đặc điểm vô hình, không tách rời, không ổn định và không dự trữ được. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng khá lớn đến kinh doanh ngân hàng. - Mức độ rủi ro trong kinh doanh ngân hàng rất cao. Vì vậy, các NHTM luôn phải đối đầu với rủi ro phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa và hạn chế rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro phá sản.) - NHTM phải chịu sự giám sát chặt chẽ và thường xuyên của các cơ quan quản lí vĩ mô.
Tính hệ thống trong kinh doanh ngân hàng cao hơn các lĩnh vực khác (mang tính đồng nhất cao về kỹ thuật nghiệp vụ, tính đặc thù là tương đối hạn chế). Các NHTM mặc dù cạnh tranh gay gắt với nhau nhưng lại cần phải có sự thống nhất về một số nghiệp vụ, phải hỗ trợ nhau về thanh khoản, vốn kinh doanh, chia sẻ rủi ro, để đảm bảo an toàn cho từng ngân hàng cũng như cho toàn hệ thống và cho nền kinh tế. Nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 1. Nghiệp vụ Nguồn vốn Cũng như bất cứ doanh nghiệp nào, muốn kinh doanh được thì phải có nguồn vốn, hay nói cách khác, nguồn vốn là tiền đề cho mọi khởi sự kinh doanh.
Căn cứ vào tính chất nghiệp vụ, nguồn vốn gồm: - Nguồn vốn chủ sở hữu. - Nguồn vốn huy động. - Nguồn vốn đi vay. - Nguồn vốn khác.
(1) Nguồn vốn chủ sở hữu (Vốn tự có) - Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng là vốn do ngân hàng tạo lập, thuộc sở hữu của ngân hàng, là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động. - Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng nguồn vốn (khoảng 10%) nhưng đây là điều kiện pháp lý bắt buộc để được thành lập ngân hàng. Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thì vốn chủ sở hữu có tính ổn định cao nhất, nó hầu -7- như không được hoàn trả trong suốt thời gian hoạt động của ngân hàng. Vì vậy vốn chủ sở hữu được dùng chủ yếu vào việc hình thành tài sản cố định của ngân hàng, góp vốn, mua cổ phần hay thành lập các công ty trực thuộc.
- Vốn chủ sở hữu ngân hàng được xem như tài sản bảo đảm, tạo lòng tin và bảo hiểm cho những người gửi tiền khi ngân hàng kinh doanh thua lỗ. Ngoài ra, theo quy định thì vốn chủ sở hữu còn quyết định đến quy mô tổng tài sản của ngân hàng. Chính vì vậy, quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu là yếu tố xác định quy mô tổng tài sản, năng lực cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thương trường. - Theo luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Vốn tự có = Vốn điều lệ + Các quỹ dự trữ + TSN khác + Vốn điều lệ: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTM được thành lập. Vốn điều lệ có thể được điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Quy mô vốn điều lệ của NHTM lớn hay nhỏ là tùy vào quy mô của ngân hàng nhưng không được nhỏ hơn vốn pháp định quy định cho ngân hàng đó. Vốn điều lệ được sử dụng chủ yếu vào mục đích sử dụng lâu dài như mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động của ngân hàng góp vốn liên doanh.