Tổng quan nghiên cứu
Trong cấu trúc truyền thông đại chúng tại Việt Nam, hệ thống phát thanh và truyền thanh bốn cấp từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc truyền tải thông tin chính thống. Mạng lưới truyền thanh cơ sở tiếp cận trực tiếp 100% người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn, nơi các phương tiện nghe nhìn hiện đại đôi khi gặp rào cản tiếp cận. Tuy nhiên, theo các đánh giá ngành trong giai đoạn 2005 - 2015, hiệu suất khai thác kỹ thuật truyền thanh cơ sở tại nhiều địa phương thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng suy giảm đáng kể, với trên 40% thiết bị phát sóng gặp hiện tượng suy hao và nhiễu sóng tín hiệu do công nghệ lạc hậu.
Huyện Bình Giang thuộc tỉnh Hải Dương là địa bàn có 18 xã và thị trấn, nơi hệ thống phát thanh, truyền thanh cơ sở giữ vị trí huyết mạch trong việc phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và điều hành của chính quyền địa phương. Dù vậy, địa phương này suốt hơn 10 năm chưa xây dựng được một chiến lược chính sách dài hạn và toàn diện để nâng cấp năng lực công nghệ truyền thông cơ sở.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số: 60 34 04 12) của tác giả Đỗ Văn Dần, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đình Bình tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tập trung nghiên cứu đề tài về chính sách nâng cao năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh trên địa bàn huyện Bình Giang. Nghiên cứu thực hiện trong phạm vi không gian huyện Bình Giang và phạm vi thời gian giai đoạn 2005 - 2015. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn, hướng tới mục tiêu tối ưu hóa 100% độ phủ sóng, nâng cao tính ổn định tín hiệu và giảm ít nhất 30% chi phí vận hành bảo trì cho toàn hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của các khung lý thuyết quản lý công nghệ hiện đại trên thế giới và văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam:
Thứ nhất là mô hình đánh giá bốn thành phần công nghệ (THIO) được khởi xướng bởi Sharif năm 1986 và phát triển bởi Trung tâm Chuyển giao Công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) cùng Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP). Mô hình này xác định một công nghệ hoàn chỉnh bao gồm bốn thành phần tương tác hữu cơ: Phần kỹ thuật (Technoware - T), Phần con người (Humanware - H), Phần thông tin (Infoware - I) và Phần tổ chức (Orgaware - O).
Thứ hai là khung phân loại năng lực công nghệ của UNCTAD (Ernst và cộng sự, 1997) và lý thuyết tích lũy năng lực công nghệ của Sanjaya Lall. Khung lý thuyết này chia năng lực công nghệ thành sáu nhóm chức năng từ đơn giản đến phức tạp: năng lực đầu tư, năng lực sản xuất, năng lực cải tiến nhỏ, năng lực tiếp thị, năng lực liên kết và năng lực đổi mới lớn.
Về mặt khái niệm, luận văn chuẩn hóa các thuật ngữ nền tảng bao gồm: "Công nghệ" theo định nghĩa của Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2013; "Năng lực công nghệ" với tư cách là khả năng làm chủ, vận hành và thích ứng công nghệ; "Phát thanh và truyền thanh" theo định hướng Chiến lược phát triển thông tin ban hành kèm Quyết định số 219/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, nghiên cứu đi sâu phân tích sự khác biệt giữa công nghệ phát thanh tương tự (Analog Radio điều chế AM, FM) và công nghệ phát thanh kỹ thuật số tiên tiến như DAB (Digital Audio Broadcasting) hay DRM (Digital Radio Mondiale).
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp đa tầng, kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian 10 năm từ năm 2005 đến năm 2015.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được triển khai để thu thập, phân tích các báo cáo chuyên môn, văn kiện chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện Bình Giang, Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương và Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Hải Dương.
Phương pháp khảo sát và phỏng vấn sâu được tiến hành trên mẫu nghiên cứu chọn lọc có chủ đích gồm Đài Phát thanh huyện Bình Giang và đại diện các đài truyền thanh xã như xã Hưng Thịnh, xã Thái Học, xã Bình Minh. Tổng cộng có 45 đối tượng tham gia phỏng vấn gồm cán bộ lãnh đạo quản lý, viên chức phụ trách nội dung và kỹ thuật viên vận hành trực tiếp tại các xã, thị trấn.
Lý do lựa chọn phối hợp phương pháp định tính và định lượng này là nhằm bóc tách chính xác mối quan hệ tương hỗ giữa bốn thành phần công nghệ THIO, nhận diện đúng điểm nghẽn của từng mắt xích kỹ thuật và con người, từ đó xây dựng các khuyến nghị chính sách có tính khả thi cao nhất cho chính quyền địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích thực trạng hệ thống phát thanh, truyền thanh tại huyện Bình Giang giai đoạn 2005 - 2015 cho thấy bốn phát hiện cốt lõi:
Thứ nhất, về phần kỹ thuật (Technoware), hệ thống trang thiết bị truyền thanh cơ sở phần lớn vẫn dựa trên nền tảng công nghệ analog cũ kỹ. Có tới 65% tuyến đường dây truyền thanh hữu tuyến bằng dây kim loại tại các thôn, xóm bị xuống cấp, dẫn đến hiện tượng suy hao tín hiệu âm thanh và nguy cơ mất an toàn vào mùa mưa bão. Việc chuyển đổi sang truyền thanh không dây phát sóng FM dải hẹp đã bước đầu được triển khai nhưng mới chỉ phủ sóng đạt khoảng 50% diện tích thực tế.
Thứ hai, về phần con người (Humanware), trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ trực tiếp vận hành hệ thống truyền thanh cấp xã còn nhiều hạn chế. Số liệu thống kê cho thấy chỉ có 22,2% cán bộ truyền thanh cơ sở có bằng cấp chuyên môn liên quan đến kỹ thuật điện tử hoặc viễn thông, trong khi 77,8% còn lại là cán bộ văn hóa kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu về vận hành thiết bị số và xử lý sự cố kỹ thuật phức tạp.
Thứ ba, về phần thông tin (Infoware) và tổ chức (Orgaware), cơ cấu phân bổ ngân sách đầu tư cho công nghệ còn mất cân đối nghiêm trọng. Trong tổng nguồn vốn đầu tư công nghệ của địa phương, có đến 80% kinh phí tập trung cho việc mua sắm máy móc phần cứng rời rạc, trong khi các hạng mục dành cho tài liệu hóa quy trình vận hành, phần mềm quản lý và đào tạo nâng cao chỉ chiếm dưới 10%.
Thứ tư, về năng lực liên kết công nghệ, mức độ phối hợp giữa Đài Phát thanh huyện với các cơ quan chuyên trách như Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ hay các viện nghiên cứu chuyên ngành chỉ đạt dưới 15% tổng số chương trình hoạt động hằng năm, khiến quá trình tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới diễn ra rất chậm chạp.
Thảo luận kết quả
Thực trạng bất cập tại huyện Bình Giang bắt nguồn từ việc hoạch định chính sách trước đây chỉ coi đổi mới công nghệ là mua sắm thiết bị vật lý mà xem nhẹ việc nâng cấp đồng bộ năng lực con người và quy trình tổ chức. Khi phân tích tương quan giữa các yếu tố, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ ràng qua bảng so sánh chỉ số năng lực của bốn thành phần THIO, qua đó chứng minh rằng nếu phần con người và thông tin bị bỏ lại phía sau thì phần kỹ thuật dù được đầu tư cũng chỉ vận hành được khoảng 40% đến 50% hiệu suất thiết kế.
Những kết quả này tương thích với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam. Nghiên cứu của Phạm Tuấn Anh về hoạt động R&D tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu của Ngô Huy Hoàng về cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ đều khẳng định năng lực con người là điều kiện tiên quyết để làm chủ thiết bị hiện đại. Đồng thời, kết quả này bổ sung bằng chứng thực tế cho đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước của Đoàn Việt Trung năm 2005 về lộ trình số hóa phát thanh tại Việt Nam và đề tài ứng dụng công nghệ số năm 2007 của Vũ Bá Tâm tại Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hải Dương, chứng minh việc chuyển đổi sang phát thanh số là quy luật tất yếu ngay cả ở cấp cơ sở.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao toàn diện năng lực công nghệ hệ thống phát thanh, truyền thanh huyện Bình Giang, bốn nhóm giải pháp chính sách trọng tâm cần được triển khai:
Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới và hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật (Technoware). Ủy ban nhân dân huyện Bình Giang cần phê duyệt đề án thay thế 100% hệ thống truyền thanh hữu tuyến kém chất lượng sang công nghệ truyền thanh không dây kỹ thuật số ứng dụng sóng FM chuyên dụng hoặc công nghệ truyền dẫn qua mạng viễn thông. Mục tiêu đạt tỷ lệ 85% cụm loa không dây hoạt động ổn định trên toàn địa bàn trước năm 2020. Cơ quan chủ trì thực hiện là Đài Phát thanh huyện phối hợp cùng Phòng Kinh tế và Hạ tầng.
Thứ hai, nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của đội ngũ nhân lực (Humanware). Ban hành chính sách hỗ trợ đào tạo định kỳ hằng năm cho 100% cán bộ phụ trách đài truyền thanh các xã, thị trấn. Trong vòng 2 năm, đảm bảo ít nhất 70% cán bộ kỹ thuật cơ sở làm chủ được các phần mềm biên tập âm thanh số trên máy tính và quy trình căn chỉnh bàn trộn âm Mixer hiện đại. Cơ quan thực hiện là Phòng Nội vụ phối hợp với Đài Phát thanh huyện.
Thứ ba, thiết lập cơ chế liên kết chuyển giao công nghệ và số hóa dữ liệu (Infoware). Đài Phát thanh huyện cần chủ động liên kết với Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Hải Dương và các tổ chức khoa học công nghệ nhằm tiếp nhận công nghệ phát thanh số DAB/DRM và phần mềm lưu trữ dữ liệu tự động. Đặt mục tiêu số hóa 100% kho tư liệu âm thanh phát sóng vào giai đoạn 2018 - 2020.
Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý và cơ chế tài chính (Orgaware). Ủy ban nhân dân các xã và thị trấn cần tái cấu trúc ngân sách chi cho công nghệ, quy định rõ tỷ lệ tối thiểu 25% nguồn vốn đầu tư phải được phân bổ cho bảo trì định kỳ, chuẩn hóa quy trình và đào tạo vận hành nhằm kéo dài niên hạn sử dụng của trang thiết bị lên mức 10 đến 15 năm.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho bốn nhóm đối tượng:
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và lãnh đạo chính quyền địa phương cấp huyện, tỉnh. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận và số liệu thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới thông tin truyền thông cơ sở phù hợp với điều kiện ngân sách địa phương.
Nhóm 2: Lãnh đạo và kỹ thuật viên các đài phát thanh cấp huyện, đài truyền thanh cấp xã. Đây là cẩm nang hướng dẫn thực tế về quy trình đánh giá hiện trạng trang thiết bị và định hướng khắc phục các lỗi kỹ thuật phổ biến trong quá trình vận hành truyền thanh cơ sở.
Nhóm 3: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý công, Xã hội học truyền thông. Tài liệu này là một nghiên cứu trường hợp điển hình về việc ứng dụng mô hình THIO và khung năng lực UNCTAD vào việc giải quyết bài toán quản lý nhà nước tại một địa phương cụ thể.
Nhóm 4: Các doanh nghiệp sản xuất, cung ứng thiết bị viễn thông và giải pháp phát thanh số. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm bắt chính xác nhu cầu công nghệ, rào cản kỹ thuật và năng lực tài chính của hệ thống truyền thanh cấp huyện, từ đó thiết kế các gói sản phẩm phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao hệ thống truyền thanh cơ sở tại huyện Bình Giang bắt buộc phải chuyển đổi từ công nghệ analog sang kỹ thuật số? Công nghệ analog truyền thống qua đường dây hữu tuyến bộc lộ nhiều nhược điểm như suy hao tín hiệu trên 35%, dễ chập cháy khi thời tiết xấu và chi phí bảo trì hàng năm rất cao. Chuyển sang kỹ thuật số giúp tối ưu chất lượng âm thanh, mở rộng 100% vùng phủ sóng và giảm đáng kể nhân công vận hành.
Mô hình bốn thành phần THIO đóng vai trò thế nào trong việc phân tích năng lực công nghệ truyền thanh? Mô hình THIO giúp đánh giá toàn diện bốn trụ cột gồm Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức. Điều này tránh được sai lầm phổ biến là chỉ tập trung 80% vốn mua sắm thiết bị mà bỏ quên kỹ năng của cán bộ và quy trình quản lý, đảm bảo công nghệ phát huy tối đa công năng.
Đội ngũ nhân lực làm công tác truyền thanh tại cấp xã hiện nay gặp khó khăn lớn nhất là gì? Khó khăn lớn nhất là 77,8% cán bộ truyền thanh cơ sở hoạt động theo hình thức kiêm nhiệm, chưa từng qua đào tạo bài bản về kỹ thuật vô tuyến điện tử. Do đó, khi hệ thống gặp trục trặc kỹ thuật hoặc cần chuyển đổi sang phần mềm biên tập số, cán bộ thường lúng túng và phụ thuộc vào đơn vị ngoài.
Lợi ích thực tế của việc liên kết với các tổ chức Khoa học và Công nghệ đối với đài truyền thanh địa phương là gì? Liên kết khoa học công nghệ giúp đài địa phương tiếp cận nhanh các giải pháp công nghệ tiên tiến như số hóa kho tư liệu âm thanh, chuẩn hóa dải tần FM không dây, đồng thời được hỗ trợ kỹ thuật trực tiếp với chi phí thấp hơn khoảng 20% đến 30% so với tự triển khai độc lập.
Các xã có ngân sách hạn chế có thể áp dụng giải pháp nào để nâng cấp hệ thống truyền thanh? Các xã cần phân kỳ đầu tư theo lộ trình 3 đến 5 năm, ưu tiên thay thế trước các cụm loa tại điểm lõm sóng và trích lập tối thiểu 25% kinh phí hằng năm cho công tác bảo dưỡng thiết bị hiện có, kết hợp huy động nguồn lực xã hội hóa từ các chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Kết luận
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đỗ Văn Dần đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu và mang lại những đóng góp quan trọng:
- Hệ thống hóa khung lý thuyết về quản lý khoa học và công nghệ, ứng dụng thành công mô hình bốn thành phần THIO vào hệ thống phát thanh, truyền thanh cấp cơ sở.
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh và chân thực về hiện trạng công nghệ truyền thanh tại huyện Bình Giang trong suốt giai đoạn 10 năm (2005 - 2015).
- Chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi của sự suy giảm hiệu quả truyền thanh bắt nguồn từ việc đầu tư thiếu cân đối giữa hạ tầng kỹ thuật và năng lực con người.
- Đề xuất hệ thống bốn giải pháp chính sách đồng bộ, khả thi, gắn liền với phân công trách nhiệm và lộ trình thực hiện cụ thể cho từng cấp chính quyền.
- Xây dựng mô hình tham chiếu thực tiễn có khả năng chuyển giao và nhân rộng cho 12 huyện, thị xã, thành phố trên toàn địa bàn tỉnh Hải Dương.
Bước sang giai đoạn 2016 - 2025, cấp ủy và chính quyền các cấp cần khẩn trương ban hành các chính sách ưu tiên nguồn lực, đưa đề án hiện đại hóa hệ thống phát thanh, truyền thanh vào nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội hằng năm nhằm xây dựng mạng lưới truyền thông cơ sở hiện đại, phục vụ đắc lực cho đời sống nhân dân.