phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn đƣợc chia thành 04 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. - Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. - Chƣơng 3: Thực trạng về chất lƣợng dịch vụ internet banking của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thăng Long. - Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ internet banking của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thăng Long.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ của ngân hàng Nguyễn Thị Phƣơng Trâm (2008), Luận văn thạc sĩ kinh tế về “Chất lƣợng dịch vụ ngân hàng điện tử: so sánh giữa mô hình SERVQUAL và GRONROOS” đã nghiên cứu những lý luận cơ bản về dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ và cũng đã sử dụng nghiên cứu định lƣợng để so sánh giữa mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ SERVQUAL và mô hình chất lƣợng kỹ thuật/chất lƣợng chức năng GRONROOS.
Đây cũng là sự tham khảo tốt cho luận văn của tác giả sau này. Đoàn Ngọc Thuận (2011) với luận văn về đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng ngắn hạn tại NH TMCP Á Châu, chi nhánh Đắk Lắk” đã có những phân tích khá đầy đủ về sản phẩm dịch vụ tín dụng trong NH, quy trình tín dụng; sau đó phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại đơn vị nghiên cứu là NH TMCP Á Châu, chi nhánh Đắk Lắk và đƣa ra những giải pháp liên quan. Hồ Diễm Thuận (2012) với đề tài về “Đánh giá chất lƣợng dịch vụ NH điện tử đối với khách hàng cá nhân tại NH TMCP Công thƣơng Việt Nam – chi nhánh Đà Nẵng” đã lựa chọn kết hợp 02 mô hình SERVPERF (5 thành phần, 22 biến ) và mô hình GRONROOS (2 thành phần, 33 biến) để xây dựng cho nghiên cứu một mô hình riêng gồm 6 thành phần và 33 biến để tiến hành phân tích định lƣợng. Phiếu điều tra đƣợc phát cho nhóm khách hàng cá nhân, phƣơng pháp phỏng vấn thử và hỏi ý kiến chuyên gia cũng đƣợc tiến hành theo một quy trình nghiên cứu cụ thể.
Sau đó, tác giả sử dụng EFA, T-test và ANOVA để phân tích và đƣa ra kết quả nghiên cứu. Những khuyến nghị về 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lƣợng đƣợc tác giả đƣa ra trong phần cuối của nghiên cứu. Nguyễn Thị Tuyết Trang (2013) trong luận văn về đề tài “Đánh giá chất lƣợng dịch vụ thẻ ATM của NH TMCP Quốc tế Việt Nam, chi nhánh Thừa Thiên Huế” cũng đã xác định đƣợc các yếu tố cấu thành nên chất lƣợng dịch vụ thẻ ATM; đo lƣờng và đánh giá đƣợc mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lƣợng dịch vụ thẻ ATM của NH TMCP Quốc tế Việt Nam, chi nhánh Thừa Thiên Huế để từ đó đề xuất đƣợc những giải pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ này tại đơn vị nghiên cứu. Tác giả sử dụng mô hình đánh giá chất lƣợng dịch vụ theo lý thuyết 5 thành phần của Parasuraman và lý thuyết hai lĩnh vực chất lƣợng dịch vụ của Gronroos để xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn.
Phƣơng pháp thu thập dữ liệu đƣợc sử dụng là phƣơng pháp điều tra với mẫu là 160 ngƣời (23 biến) và phỏng vấn 8 ngƣời là những khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ này. ATM là một trong những dịch vụ của NH đang phát triển trong giai đoạn gần đây nhƣng đặc tính có nhiều sự khác biệt với sản phẩm IB. Trong Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Phạm Vĩ Phƣơng (2014) với đề tài “Nâng cao chất lƣợng dịch vụ mobile banking của NH TMCP Công thƣơng Việt Nam, chi nhánh 2” cũng đã có những nghiên cứu về chất lƣợng dịch vụ và nâng cao chất lƣợng dịch vụ cùng với việc sử dụng phƣơng pháp phân tích định lƣợng. Điểm khác biệt ở đây là tác giả Phƣơng chỉ nghiên cứu về mobile banking – 1 trong các loại hình của IB và với khách thể nghiên cứu là một NH khác so với nghiên cứu của tác giả.
Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ Internet Banking của ngân hàng Trần Tuấn Mãng và Nguyễn Minh Kiều (2011) trong bài viết “Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng về chất lƣợng dịch vụ IB của khách hàng cá nhân” đã xác định và phân tích các nhân tố ảnh hƣởng tới sự hài lòng của khách hàng cá nhân về chất lƣợng dịch vụ IB. Nghiên cứu sử dụng kinh tế lƣợng để phân tích dữ liệu thu thập đƣợc từ 374 khách hàng đang sử dụng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dịch vụ IB với phƣơng pháp nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy. Nghiên cứu đã xác định đƣợc 5 nhân tố bao gồm giao diện web, sự cảm thông, sự tin cậy, sự đáp ứng và sự đăng nhập – thao tác có ảnh hƣởng đến sự hài lòng của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ IB. Sau cùng, nghiên cứu gợi ý một số chính sách để thực hiện theo thứ tự ƣu tiên nhằm thỏa mãn tối đa sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ IB do NH cung cấp.
Trong mô hình phân tích tác giả có thêm một nhân tố Giao diện trang web, đây là một điểm mới đáng học hỏi khi nghiên cứu về IB. Trần Thị Thu Duyên (2012) trong luận văn thạc sĩ kinh tế về nội dung “Nâng cao chất lƣợng dịch vụ IB của NH TMCP Đông Á” đã trình bày những nội dung về IB và chất lƣợng dịch vụ, tổng quan về sự phát triển dịch vụ IB trên thế giới. Sau khi nghiên cứu 2 mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ là SERVQUAL và SERVPERF, tác đã xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn dựa trên mô hình SERVQUAL để tiến hành đánh giá thực trạng về chất lƣợng dịch vụ IB của NH Đông Á thông qua việc phân tích bằng định lƣợng, để từ đó đƣa ra đƣợc các giải pháp và kiến nghị. Đây là công trình giúp tác giả có nhiều sự học hỏi để có thể có những áp dụng phù hợp vào khách thể nghiên cứu BIDV Thăng Long.
Nguyễn Lâm Hoàng Yến (2013) trong luận văn thạc sĩ kinh tế về nội dung “Đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ IB của NH TMCP Á Châu, chi nhánh Đà Nẵng” sau khi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về dịch vụ, chất lƣợng dịch vụ, các mô hình về chỉ số hài lòng của khách hàng; tác giả Yến đã lựa chọn mô hình SERVPERF làm mô hình nghiên cứu cho luận văn của mình. Trong nghiên cứu về thực trạng, tác giả cũng đã sử dụng nghiên cứu định lƣợng với theo mô hình nghiên cứu SERVPERF để phân tích chất lƣợng dịch vụ IB của NH TMCP Á Châu, chi nhánh Đà Nẵng. Công trình mới chỉ dừng lại ở mục đích là đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ, với một khách thể nghiên cứu là NH nƣớc ngoài với khá nhiều khác biệt nhƣng cũng là một sự tham khảo tốt cho 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luận văn của tác giả. Trƣơng Huyền Uyên Trang (2013) trong đề tài “Nâng cao chất lƣợng dịch vụ IB tại NH TMCP Hàng Hải Việt Nam, chi nhánh Thừa Thiên Huế” cũng sử dụng 02 mô hình SERVQUAL và SERVPERF và tiến hành điều tra với mẫu là 150 phiếu (135 phiếu hợp lệ).
Kiểm định T-test và phân tích định lƣợng bằng SPSS là những công cụ giúp tác giả phân tích những dữ liệu đã thu thập để đƣa ra đƣợc những kết quả và khuyến nghị của mình. Một nghiên cứu gần hơn của tác giả Nguyễn Phƣớc Quý Hoàng (2013) trong luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Nâng cao chất lƣợng dịch vụ IB của NH TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Thừa Thiên Huế”. Tác giả Hoàng cũng đã chỉ đƣa ra những khái niệm cơ bản, những mô hình nghiên cứu liên quan tới vấn đề nghiên cứu, tiến hành phân tích định lƣợng và đƣa ra những giải pháp cụ thể. Điểm khác biệt trong khách thể nghiên cứu cũng khiến cho công trình dù là một bản tham khảo tốt nhƣng đòi hỏi tác giả vẫn phải có những lựa chọn phù hợp.
Hai nghiên cứu của tác giả Trang (2013) và Hoàng (2013) đều có phạm vi nghiên cứu là các chi nhánh NH tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Sự khác biệt về vùng địa lý sẽ kéo theo sự khác biệt về tâm lý khách hàng và sự hài lòng trong sử dụng dịch vụ, điều này cũng ít nhiều ảnh hƣởng tới sự đánh giá về chất lƣợng dịch vụ khi chúng ta nghiên cứu. Cơ sở lý luận về chất lƣợng dịch vụ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Dịch vụ internet banking Dịch vụ Các nhà nghiên cứu marketing hiện đại Kotler và Armstrong (2004) định nghĩa dịch vụ nhƣ sau “Dịch vụ là bất kì hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả”. Theo Lewis và Booms (1983) thì “Dịch vụ là một sự đo lƣờng mức độ dịch vụ đƣợc đƣa đến khách hàng tƣơng xứng với mong đợi 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lƣợng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất”. Nhận định này chứng tỏ rõ rằng chất lƣợng dịch vụ liên quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ.
Parasuraman (1991) giải thích rằng để biết đƣợc sự dự đoán của khách hàng thì tốt nhất là nhận dạng và thấu hiểu những mong đợi của họ. Việc phát triển một hệ thống định đƣợc những mong đợi của khách hàng là cần thiết. Và ngay sau đó ta mới có một chiến lƣợc chất lƣợng cho dịch vụ có hiệu quả. Thông thƣờng, khách hàng mua hàng hóa giao dịch với ngƣời bán hàng trong khoảng thời gian ngắn, và sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp phụ thuộc vào số lần mua hàng tiếp theo.
Còn đối với sản phẩm là dịch vụ, thời gian giao dịch sẽ kéo dài hơn và trong một số trƣờng hợp đặc biệt nhƣ dịch vụ điện thoại thì sự gắn bó giữa khách hàng với doanh nghiệp sẽ diễn ra trong khoảng thời gian dài lâu, cho nên khách hàng luôn cân nhắc kỹ lƣỡng trƣớc khi quyết định chọn mua dịch vụ so với mua hàng hóa.