CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ chăm sóc khách hàng tại Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm của dịch vụ chăm sóc khách hàng Trong kinh tế học Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Karl Marx cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Khi kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông xuyên suốt, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển" Dịch vụ chăm sóc khách hàng (CSKH) là hoạt động mang tính cạnh tranh của doanh nghiệp để tiếp cận và giữ khách hàng cả bằng lý trí và tình cảm.
Đầu tư cho CSKH không phải là các khoản chi phí ngắn hạn thông thường, mà là đầu tư có tính lâu dài, mang tầm chiến lược. Khái niệm, chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại a) Khái niệm ngân hàng thương mại Tiền thân của các ngân hàng xuất phát từ dịch vụ đổi tiền và đúc tiền của các thợ vàng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, nhu cầu tích trữ tiền của các lãnh chúa và nhà buôn tăng cao, dần dần hình thành việc cất trữ tiền hộ, dựa trên uy tín lâu dài những “ nhà giữ tiền hộ” bắt đầu với hoạt động đổi ngoại tệ lấy bản tệ và tận dụng nguồn tiền nhàn rỗi để cho vay sinh lời. trải qua nhiều thăng trầm, đến thế kỷ 17 thì các ngân hàng hiện đại đã xuất hiện ở Châu Âu tại Anh và Đức. đến nay, có nhiều loại hình ngân hàng được thành lập như: Ngân Hàng Thương Mại, Ngân Hàng Đầu Tư, Ngân Hàng Tiết Kiệm, Ngân Hàng Tư Nhân, Liên Minh Tín Dụng.
Nhìn chung, các Ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung có 7 những bước tiến quan trọng với vai trò là “huyết mạch” của nền kinh tế, là một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là các Ngân Hàng Thương mại vì nó là loại hình phổ biến hơn cả. vậy Ngân Hàng Thương Mại là gì ? Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: Theo Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: ”Ngân hàng là loại hình tổ chức tàt chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” Theo quan điểm Luật pháp thì : Tại Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Tại Ản Độ: ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ và đầu tư.” Tại Pháp: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận được của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Theo luật tổ chức tín dụng 2010 của Việt Nam thì “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng như: Nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, mở tài khoản, cấp tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về NHTM, nhìn chung lại có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh dựa trên lĩnh vực tiền tệ với hoạt động chính là nhận và phát hành chứng chỉ tiền gửi, mở tài khoản, trên cơ sở nguồn vốn chủ sở hữu và vốn huy động để thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư, nghiệp vụ thanh toán, môi giới cho các cá nhân và tổ chức là khách hàng của NHTM. b) Chức năng của ngân hàng thương mại Ngân Hàng Thương Mại có ba chức năng chính: 8 Trung gian thanh toán Trung Chức gian Tạo tiền Tín dụng nang ❖ Chức năng trung gian tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, NHTM là một trung gian tài chính quan trọng để điều chuyển vốn từ người thừa sang người thiếu. Thông qua sự điều khiển này, NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thêm việc làm, cải thiện mức sống của dân cư, ổn định thu chi chính phủ. Chính với chức năng này, NHTM góp phần quan trọng vào việc điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiềm chế lạm phát.
9 Trong nền kinh tế, luôn luôn tồn tại hai chủ thể song song là: những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn và những cá nhân, tổ chức có vốn thặng du. Vậy vốn sẽ chảy từ nhóm thặng du sang nhóm thiếu thông qua Ngân Hàng Thuơng Mại. Từ hoạt động này, NHTM có vai trò lớn trong việc luân chuyển vốn giúp các đơn vị sử dụng vốn hiệu quả, đôi bên cùng có lợi, góp phần giải quyết mâu thuẫn quan hệ tài chính một cách trực tiếp. ❖ Chức năng trung gian thanh toán Thay vì các cá nhân tổ chức trực tiếp thanh toán với nhau thì các NHTM đóng vai trò là kênh thanh toán trung gian, giúp giảm thiểu rủi ro tiền mặt, tiết kiệm thời gian và đảm bảo quyền lợi của đôi bên.
NHTM cung cấp nhiều hình thức thanh toán trung gian nhu: Séc, Uỷ nhiệm chi, Thu hộ, Chi hộ và dịch vụ Ngân hàng điện tử, thanh toán bù trừ, thanh toán song phuơng thông qua Ngân hàng Trung ương hoặc Trung Tâm Thanh Toán. Bên cạnh đó, có nhiều hình thức thanh không chỉ giữa các ngân hàng nội địa mà còn giữa các Ngân hàng trên toàn thế giới. Ngân hàng thuơng mại với chức năng trung gian thanh toán góp phần thúc đẩy mạnh mẽ giao thuơng toàn cầu. ❖ Chức năng tạo ra các công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt Sự ra đời của các Ngân hàng đã tạo ra một buớc phát triển về chất trong kinh doanh tiền tệ.
Nếu nhu truớc đây các tổ chức kinh doanh tiền tệ nhận tiền gửi và rồi cho vay cũng chính bằng các đồng tiền đó, thì nay các ngân hàng đã có thể cho vay bằng tiền giấy của mình, thay thế tiền bạc và vàng do khách hàng gửi vào ngân hàng. Hơn nữa, khi đã hoạt động trong một hệ thống Ngân hàng, NHTM có khả năng “ tạo tiền “ bằng cách chuyển khoản hay bút tệ để thay thế cho tiền mặt. Điều này đã đua NHTM lên vị trí là nguồn tạo tiền. Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM dựa trên cơ sở tiền gửi của xã hội.
Số tiền gửi đuợc nhân lên gấp bội khi Ngân hàng cho vay thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng. c) Vai trò của ngân hàng thương mại ■#■ Tập trung và cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong nền kinh tế luôn xảy ra những mâu thuẫn trong quan hệ tài chính, điều 10 này có nghĩa là, xã hội luôn tồn tại những chủ thể có nguồn tiền nhàn rỗi nhung lại không muốn tiền của mình nằm yên một chỗ, mặt khác họ cũng muốn bảo quản tiền của mình, chủ thể còn lại là những nguời thiếu hụt vốn trong hoạt động kinh doanh, nhung hai chủ thể này không hề có quan hệ tài chính truớc đó, NHTM đuợc sinh ra với vai trò trung gian, xây dựng uy tín với các bên, tập trung huy động vốn và cấp vốn cho những chủ thể có nhu cầu. Qua đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngân hàng thuơng mại vừa là nguời đi vay vừa là nguời cho vay trong mối quan hệ tài chính đó.
#■ Là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường Trong thời buổi kinh tế hội nhập, các doanh nghiệp phải đối mặt với những dây truyền máy móc thiết bị lỗi thời, đội ngũ nhân viên chua đuợc đào tạo theo các tiêu chuẩn nghề nghiệp và vốn luu động. NHTM đã giúp các doanh nghiệp có thể giải quyết ba vấn đề trên bằng việc cung cấp sản phẩm tín dụng phù hợp cho các doanh nghiệp với các mức lãi suất tuơng ứng. Khi doanh nghiệp đuợc cấp vốn, họ sẽ thay đổi dây truyền sản xuất để tạo ra khối luợng thành phẩm lớn với chi phí ít hơn, có cơ hội đuợc tiếp xúc và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia phát triển, đội ngũ cán bộ nhân viên cũng đuợc đào tạo để phù hợp với sự phát triển khoa học - công nghệ - kỹ thuật hiện đại. và quan trọng hơn hết, là nhu cầu vốn luu động đuợc đáp ứng kịp thời cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp dần dần phát triển tại thị truờng trong nuớc và tiến đến thị truờng nuớc ngoài là thành tựu lớn và phải kể đến vai trò làm cầu nối giữa doanh nghiệp và thị truờng của các NHTM. +Thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia NHTM thông qua những hoạt động của mình góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia nhu: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi xuất, ổn định thị truờng tài chính, thị truờng ngoại hối, ổn định và tăng truởng kinh tế. Với các công cụ mà ngân hàng trung uơng dùng để thực thi chính sách tiền tệ nhu: chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung uơng đối với NHTM; lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ thị truờng tự do, thì các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong việc thi hành 11 chính sách tiền tệ quốc gia. Các NHTM có thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường mở qua đó góp phần chống lạm phát và ổn định sức mua của đồng nội tệ.