CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 1.Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở mỗi quốc gia khác nhau lại có một khái niêm khác nhau và tiêu chuẩn khác nhau để phân loại một DNNVV. Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam thì: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các pháp nhân (bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, liên minh hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước hoặc hộ kinh doanh cá thể đã đăng kí kinh doanh theo Nghị định 02/2002/NĐ –CP) có số vốn không quá 10 tỷ đồng và số lao động thường xuyên không quá 300 người”. Tại Mỹ, DNNVV được định nghĩa: “Là một doanh nghiệp có quyền sở hữu độc lập, hoạt động độc lập và không phải là thành phần nổi trội của một ngành công nghiệp”.
Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (World Bank) thì loại hình DNNVV được chia thành 3 loại dựa trên tiêu chí số người lao động bao gồm: Doanh nghiệp siêu nhỏ (có số lượng lao động dưới 10 người), Doanh nghiệp nhỏ ( có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người) và Doanh nghiệp vừa (có từ 50 đến 300 lao động). Tóm lại, DNNVV có thể được hiểu theo một định nghĩa chung như sau: “DNNVV là những cơ sở sản suất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu chí vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia”. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất, Các DNNVV có quy mô hoạt động nhỏ bé Hầu hết các DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động và doanh thu. Với số vốn và lượng lao động như vậy dẫn tới nguồn vốn cũng trở nên hạn hẹp, kéo theo đó các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, đầu tư trang thiết bị máy móc, trình độ công nghệ cũng như năng lực quản lý bị hạn chế, tiếp cận thông tin kém gây ra nhiều bất lợi trong sản xuất.
Vì vậy mà thiếu vốn chính là đặc điểm bất lợi nổi bật của DNNVV. 5 Thứ hai, DNNVV có sức cạnh tranh thấp Chính bởi đặc điểm thứ nhất, các DNNVV có quy mô nhỏ bé, vốn đầu tư cho hoạt động sản suất kinh doanh còn ít dẫn đến nhiều khó khăn trong khâu sản xuất kinh doanh mà ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm cũng như sản lượng đầu ra chưa cao, mẫu mã bao bì không sáng tạo thu hút,. sức cạnh tranh trên thị trường yếu, vì thế mà doanh nghiệp rất khó mở rộng thị trường, hàng hóa của doanh nghiệp ngày càng khó tiêu thụ. Dẫn tới lợi nhuận thu được thấp, gây cản trở cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ ba, Trình độ lao động và năng lực quản lý của DNNVV còn thấp Hiện nay, trình độ và tay nghề của đội ngũ quản lý và người lao động trong các DNNVV là một vấn đề hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi nguồn vốn hạn hẹp nên rất khó để các DNNVV có thể chiêu mộ được quản lý giỏi và lực lượng lao động có tay nghề. Chủ yếu lực lượng lao động trong các DNNVV là lao động phổ thông, còn thiếu kĩ năng và ít được đào tạo tay nghề. Bên cạnh đó thì kỹ năng của nhà lãnh đạo còn nhiều hạn chế, số lượng các DNNVV có chủ sở hữu, giám đốc, quản lý có chuyên môn cao và năng lực quản trị tốt chưa nhiều.
Dẫn tới năng suất lao động thấp khiến doanh nghiệp rất khó đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường. Thêm vào đó, hiệu quả sử dụng vốn cũng thấp, tác động đến khả năng hoàn trả vốn vay và bảo toàn vốn thấp. Điều này gây nhiều hạn chế cho DNNVV trong việc tiếp cận với vốn của ngân hàng.Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế DNNVV có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi nước. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, tình hình cạnh tranh toàn cầu đang trở nên vô cùng gay gắt, các nước đều chú ý hỗ trợ các DNNVV nhằm thu hút được tối đa nguồn nhân lực, nâng cao và tận dụng khả năng quản lý, tay nghề cho nhân viên, tăng năng suất lao động tối đa và tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm.
Các DNNVV là đối tượng năng động và nhanh nhạy với cơ chế thị trường, những doanh nghiệp này đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của nền kinh tế, cụ thể như sau: Thứ nhất, DNNVV góp phần làm tăng tổng thu nhập quốc nội, giải quyết việc làm và góp phần làm ổn định xã hội 6 Theo thống kê trên thế giới, số DNNVV chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp hoạt động, thu hút 75 – 95% số lượng công nhân làm việc các doanh nghiệp và đóng góp 42 – 56% GDP của mỗi quốc gia. Cùng với sự phát triển và phân bố rộng khắp cả nước của các DNNVV đã tạo cơ hội việc làm cho lực lượng lao động từ khu vực thành thị tới vùng nông thôn. Khi có được việc làm đời sống người dân được cải thiện, những tệ tạn xã hội từ đó mà giảm thiểu, góp phần ổn định và phát triển xã hội. Thứ hai, DNNVV cung cấp ngày càng lớn và đa dạng sản phẩm phục vụ cho đời sống và xuất khẩu Do hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV bao trùm hầu hết các lĩnh vực kinh tế như ngành nghề thủ công, mỹ nghệ, giầy da, may mặc, sản xuất gia công chế biến, đại ký khai thác những sản phẩm cho xuất khẩu, … chính vì vậy mà các DNNVV có khả năng đáp ứng được mọi nhu cầu của xã hội trong khi các doanh nghiệp lớn lại ko làm được.
Trên thực tế, nhiều DNNVV đóng vai trò là đầu mối thu gom nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp lớn hoặc thực hiện một số công đoạn dịch vụ khác cho các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, ở một khía cạnh khác, DNNVV lại đóng vai trò tích cực đối với các doanh nghiệp lớn. Thứ ba, DNNVV góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của vùng Chính bởi sự hoạt động rộng khắp của các DNNVV mà các doanh nghiệp này có thể hiểu rõ và nắm bắt được những điểm mạnh điểm yếu, nguồn tài nguyên riêng có của các vùng miền.Các DNNVV có điều kiện khai thác triệt để nguồn nhiên liệu trong vùng tránh tình trạng lãng phí cho xã hội. Thêm vào đó, các DNNVV là những bộ phận doanh nghiệp năng động cộng thêm lĩnh vực hoạt động chuyên môn vốn có của mình sẽ làm cơ sở để phát huy những thế mạnh đó của vùng.
Ngoài ra, một số những DNNVV có điều kiện sản xuất kinh doanh làng nghề thủ công cũng góp phần khôi phục, duy trì và phát triển những ngành nghề truyền thống. Thứ tư, DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, thúc đẩy đô thị hoá Một mặt các DNNVV có vai trò khôi phục phát triển và duy trì những ngành nghề truyền thống thì mặt khác các doanh nghiệp này lại rất nhạy bén với tình hình phát triển kinh tế. Hiện nay các DNNVV ngày càng triển khai đẩy mạnh các ngành 7 dịch vụ công nghiệp, giảm bớt tỷ trọng ngành nông nghiệp. Các lao động trong khối ngành nông nghiệp dần chuyển sang làm các ngành công nghiệp, dịch vụ ngay chính tại địa phương, hoặc trên các khu vực thành thị, từ đó góp phần công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thúc đẩy đô thị hóa cả nước.
Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016: “Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng”, Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. NHTM có thể tiến hành cho vay với nhiều đối tượng khách hàng như các cá nhân, các doanh nghiệp… Tuy nhiên tùy theo đối tượng vay vốn, khái niệm cho vay có thể được hiểu theo những khía cạnh khác nhau.
Hiện nay, trong các đối tượng khách hàng của NHTM thì DNNVV là đối tượng khách hàng có nhiều tiềm năng nhất. Ưu điểm của DNNVV không chỉ là sự gia tăng ngày càng lớn vê số lượng mà còn là những đóng góp cho sự phát triển kinh tế và tăng thu nhập dân cư. Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng, “Cho vay DNNVV là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thương mại cho DNNVV sử dụng một khoản tiền để dùng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Về đối tượng vay, các DNNVV có ít ưu thế hơn so với các doanh nghiệp lớn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng.
Các doanh nghiệp lớn có khả năng huy động vốn từ nhiều nguồn phong phú hơn như thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, … Tuy nhiên nguồn vốn huy động đươc từ thị trường chứng khoán lại chưa nhiều. Vốn ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp lớn vẫn chiếm tỷ trọng cao. Thực tế thấy rằng các ngân hàng thường có sự phân biệt đối xử, ưu tiên cho vay những doanh nghiệp lớn hơn các DNNVV do những doanh nghiệp lớn có ưu thế hơn về tài sản, có 8 mỗi quan hệ tốt hơn với các ngân hàng. Nhưng mặt khác, hiện nay, số lượng các DNNVV không ngừng gia tăng, nhu cầu về vốn của đối tượng khách hàng này lại vô cùng cấp thiết, nếu khai thác được những lợi thế của các DNNVV thì phân khúc khách hàng này sẽ đem lại một khoản thu nhập chiếm tỉ trọng lớn trong thu nhập từ hoạt động cho vay tại ngân hàng.
Do vậy, hoạt động cho vay DNNVV là một hoạt động rất tiềm năng.