Luận văn: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại HNX

Tài liệu luận văn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu thực tiễn tại các công ty niêm yết trên sàn HNX.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2016

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp mới của luận văn

Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

1.1.2. Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận

1.1.3. Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận

1.1.4. Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

1.1.5. Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.2. Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.3. Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận

1.2.4. Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.5. Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận

1.3. Nhận xét và xác định vấn đề nghiên cứu

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

2.1. Định nghĩa hành vi quản trị lợi nhuận

2.2. Các lý thuyết nền tảng

2.2.1. Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

2.3. Biến kế toán dồn tích và nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

2.3.1. Biến kế toán dồn tích

2.3.2. Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

2.4. Một số công cụ quản trị lợi nhuận

2.4.1. Thay đổi chính sách kế toán áp dụng

2.4.2. Thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản

2.4.3. Thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang

2.4.4. Thông qua các khoản trích trước và phân bổ

2.4.5. Thông qua các khoản dự phòng phải trả

2.4.6. Việc ước tính tỷ lệ hoàn thành và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn

2.5. Tổng quan về Thông tư 200/2014/TT-BTC

2.5.1. Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho

2.5.2. Ghi nhận doanh thu đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản

2.5.3. Ghi nhận chi phí chiết khấu thương mại, khuyến mãi và giảm giá hàng bán

2.5.4. Ghi nhận dự phòng hoàn nguyên môi trường

2.5.5. Ghi nhận lãi phải thu từ các khoản cho vay

2.5.6. Ghi nhận lãi vay đối với nhà thầu xây lắp

2.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu

3.1.1. Mô hình nghiên cứu

3.1.2. Phát triển giả thuyết nghiên cứu

3.1.2.1. Chế độ kế toán
3.1.2.2. Quy mô công ty
3.1.2.3. Thời gian hoạt động của công ty
3.1.2.4. Thời gian niêm yết của công ty
3.1.2.5. Loại công ty kiểm toán
3.1.2.6. Tính trì hoãn của báo cáo tài chính

3.2. Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu

3.2.1. Phương pháp nghiên cứu

3.2.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Mô hình hồi quy

3.3.1. Mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận – Mô hình Modified Jones – Mô hình hồi quy giai đoạn 1

3.3.2. Mô hình nghiên cứu các nhân tố - Mô hình hồi quy giai đoạn 2

3.4. Chọn mẫu và thu thập dữ liệu

3.4.1. Thu thập dữ liệu

3.5. Phân tích dữ liệu

3.5.1. Phân tích thống kê mô tả

3.5.2. Phân tích tương quan và phân tích hồi quy

3.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu

4.1.1. Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1

4.1.2. Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2

4.1.2.1. Thống kê mô tả
4.1.2.2. Phân tích tương quan
4.1.2.3. Phân tích hồi quy

4.2. Bàn luận kết quả

4.3. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

5.2. Đối với công ty niêm yết

5.3. Đối với công ty kiểm toán

5.4. Đối với các đối tượng sử dụng thông tin

5.5. Hạn chế của nghiên cứu

5.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Định nghĩa và khái niệm cơ bản về quản trị lợi nhuận

Quản trị lợi nhuận là hành vi của các nhà quản lý sử dụng những kỹ thuật kế toán để thao túng báo cáo tài chính nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể. Đây là một vấn đề quan trọng trong hành vi quản trị tài chính của các công ty niêm yết. Quản trị lợi nhuận không chỉ ảnh hưởng đến độ tin cậy của thông tin tài chính mà còn tác động đến các quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Các nhà quản lý có thể sử dụng các công cụ như thay đổi chính sách kế toán, điều chỉnh các khoản dự phòng, hay lựa chọn phương pháp đánh giá tài sản để làm thay đổi con số lợi nhuận báo cáo. Việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi này là rất cần thiết để xây dựng các cơ chế kiểm soát hiệu quả.

1.1. Lý thuyết đại diện và quản trị lợi nhuận

Lý thuyết đại diện (Agency Theory) giải thích mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý. Xung đột lợi ích giữa hai bên này tạo ra động lực cho hành vi quản trị lợi nhuận. Khi nhà quản lý có quyền hạn trong việc lựa chọn chính sách kế toán, họ có thể sử dụng quyền này để làm tăng hoặc giảm lợi nhuận báo cáo tùy theo mục tiêu riêng của họ. Lý thuyết này cung cấp nền tảng lý thuyết để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định báo cáo tài chính.

1.2. Biến kế toán dồn tích và nhận diện quản trị lợi nhuận

Biến kế toán dồn tích (Accruals) là sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và dòng tiền thực tế. Đây là công cụ chính để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận. Mô hình Modified Jones được sử dụng rộng rãi để đo lường hành vi này thông qua việc phân tách accruals thành thành phần bình thường và bất thường. Accruals bất thường được xem là dấu hiệu của quản trị lợi nhuận.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu cho thấy nhiều nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận. Các nhân tố này bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động, thời gian niêm yết, loại công ty kiểm toán, và tính trì hoãn của báo cáo tài chính. Quy mô công ty được đo lường bằng tổng tài sản hoặc doanh thu là một nhân tố quan trọng. Các công ty lớn hơn thường chịu nhiều áp lực từ các bên liên quan hơn, do đó có thể có xu hướng quản trị lợi nhuận khác nhau. Thời gian hoạt động của công ty cũng ảnh hưởng, vì các công ty mới có thể có nhu cầu quản trị lợi nhuận khác với các công ty có kinh nghiệm. Loại công ty kiểm toán, đặc biệt là các Big4, đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và hạn chế hành vi này.

2.1. Chế độ kế toán và quy mô công ty

Chế độ kế toán áp dụng tại các công ty có ảnh hưởng đáng kể. Các công ty tuân theo Thông tư 200/2014/TT-BTC có những lựa chọn kế toán khác nhau. Quy mô công ty được xác định dựa trên tổng tài sản hoặc doanh thu ảnh hưởng đến khả năng quản trị lợi nhuận. Công ty lớn hơn thường có nhiều phương pháp kế toán hơn để lựa chọn, do đó có thêm cơ hội để quản trị lợi nhuận.

2.2. Thời gian niêm yết và loại công ty kiểm toán

Thời gian niêm yết của công ty là yếu tố quan trọng vì các công ty mới niêm yết thường có áp lực cao hơn để đạt được kỳ vọng của nhà đầu tư. Loại công ty kiểm toán, đặc biệt là các công ty kiểm toán Big4, có thể hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận thông qua kiểm toán chất lượng cao. Tính trì hoãn của báo cáo tài chính cũng có thể cho thấy mức độ quản trị lợi nhuận.

III. Các công cụ và kỹ thuật quản trị lợi nhuận

Các nhà quản lý sử dụng nhiều kỹ thuật quản trị lợi nhuận khác nhau để thao túng báo cáo tài chính. Thay đổi chính sách kế toán là một công cụ phổ biến, chẳng hạn như thay đổi phương pháp tính giá hàng xuất kho hoặc phương pháp khấu hao. Trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng cho tổn thất tài sản là một công cụ khác, vì dự phòng có tính chủ quan cao. Việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang cho các công ty xây dựng cũng là một kỹ thuật quan trọng. Ghi nhận doanh thu đối với các hợp đồng dài hạn và hoạt động bất động sản cũng có thể được thao túng. Ghi nhận chi phí chiết khấu, khuyến mãi và giảm giá hàng bán là một lĩnh vực khác mà nhà quản lý có thể tác động.

3.1. Thay đổi chính sách kế toán và dự phòng tài sản

Thay đổi chính sách kế toán được cho phép trong một số trường hợp nhưng có thể được sử dụng để quản trị lợi nhuận. Trích lập dự phòng tổn thất tài sản mang tính chủ quan cao vì phụ thuộc vào đánh giá của nhà quản lý về khả năng thu hồi giá trị tài sản. Các công ty có thể sử dụng dự phòng để mịn lợi nhuận qua các năm.

3.2. Ghi nhận doanh thu và chi phí theo Thông tư 200 2014

Thông tư 200/2014/TT-BTC cung cấp các quy định chi tiết về ghi nhận doanh thu và chi phí. Tuy nhiên, các quy định này vẫn để lại khoảng trống cho nhà quản lý trong việc thực hiện. Ghi nhận doanh thu hoạt động bất động sản có tính chủ quan cao, đặc biệt là trong việc xác định tiến độ hoàn thành công trình.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng nghiên cứu đối với các bên liên quan

Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều đối tượng. Đối với cơ quan quản lý nhà nước, kết quả này giúp xây dựng các chính sách kiểm soát hiệu quả hơn để hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận. Đối với các công ty niêm yết, việc hiểu rõ các nhân tố ảnh hưởng giúp tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính. Đối với công ty kiểm toán, thông tin này giúp cải thiện kỹ thuật kiểm toán và xác định các rủi ro cao hơn. Đối với các nhà đầu tư, việc nắm vững về quản trị lợi nhuận giúp đưa ra quyết định đầu tư sáng suốt hơn. Nghiên cứu cũng giúp các nhà quản lý tài chính, giáo dục và các nhà chính sách hiểu rõ hơn về môi trường kinh doanh.

4.1. Ứng dụng cho cơ quan quản lý nhà nước và công ty niêm yết

Cơ quan quản lý nhà nước có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra các quy định kế toán chặt chẽ hơn, đặc biệt đối với các lĩnh vực có tính chủ quan cao. Các công ty niêm yết có thể áp dụng kết quả để cải thiện cơ cấu quản trị công ty và tăng cường giám sát của ban kiểm soát. Việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính cũng giúp tăng lòng tin của nhà đầu tư.

4.2. Ứng dụng cho công ty kiểm toán và nhà đầu tư

Công ty kiểm toán, đặc biệt là Big4, có thể sử dụng thông tin này để phát triển kỹ thuật kiểm toán chuyên biệt nhằm phát hiện quản trị lợi nhuận. Các nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính có thể áp dụng các biết thức về các nhân tố ảnh hưởng để đánh giá chất lượng lợi nhuận báo cáo và từ đó đưa ra quyết định đầu tư phù hợp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận nghiên cứu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Mô hình Healy (1985) là mô hình đầu tiên đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, mô hình chỉ so sánh chỉ số tổng dồn tích trên tài sản giữa các nhóm doanh nghiệp chứ không đo lường trực tiếp dồn tích. Mô hình DeAngelo (1986) tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản để xác định dồn tích có điều chỉnh riêng biệt cho mỗi doanh nghiệp.

Mô hình Jones (1991) tính dồn tích không điều chỉnh là một hàm số thay đổi theo doanh thu và tài sản cố định hữu hình, tính tổng biến dồn tích bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trừ đi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, và dồn tích có điều chỉnh được xác định là phần còn lại của tổng dồn tích sau khi trừ đi dồn tích không điều chỉnh. Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986), xác định dồn tích có điều chỉnh bằng cách tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng. Mô hình của Dechow và các cộng sự (1995) (còn gọi là mô hình Modified Jones) cải tiến mô hình Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích không điều chỉnh là nợ phải thu; theo đó Dechow và các cộng sự (1995) tiến hành so sánh các mô hình để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy mô hình Modified Jones là tốt nhất để phát hiện quản trị lợi nhuận. Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) phát triển mô hình của Jones (1991) và mô hình Modified Jones (1995) với việc đưa thêm biến lợi nhuận trên tổng tài sản vào mô hình nhằm xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động của công ty; tuy nhiên, nghiên cứu của Keung and Shih (2014) cho thấy các sai số của mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) sẽ có mối tương quan ngược chiều với biến kế toán dồn tích có thề điều chỉnh.

Footer Page 18 of 21. Header Page 19 of 21. Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về hành vi sử dụng các khoản dồn tích để tối đa hóa các khoản thưởng. Watts and Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận.

Healy and Wahlen (1999) cho rằng có ba động cơ chính dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận, đó là kỳ vọng thị trường vốn, các hợp đồng bằng văn bản được ký kết trong đó có liên quan đến số liệu kế toán, và phản ứng lại các quy định của chính phủ. Baralexis (2004) cho thấy các công ty nhỏ đang thực sự quan tâm nhiều hơn về tiết kiệm chi phí thuế trong cân nhắc quản trị lợi nhuận. Ball and Shivakumare (2005) xác định thuế là một trong những mục tiêu chính của báo cáo thường niên của các công ty tư nhân. Burgstahler and Eames (2006) nghiên cứu vai trò của kỳ vọng thị trường vốn và phát hiện ra rằng hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng khi đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích và những dự báo trong quản lý.

Bergstresser and Philippon (2006) nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý khi họ được quyền chọn mua cổ phiếu, kết quả cho thấy để gia tăng tài sản cá nhân, nhà quản trị luôn có xu hướng quản trị lợi nhuận theo hướng tăng lên. Chevis và các cộng sự (2007) đã nghiên cứu về sự đồng thuận và đánh giá công ty từ thị trường vốn, kết quả cho thấy các công ty nếu đạt hoặc vượt kế hoạch sẽ được đánh giá cao hơn các công ty không đạt được kế hoạch. Noronha và các cộng sự (2008) cho thấy động cơ hợp đồng bồi thường quản lý và tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là những động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty đại chúng của Trung Quốc. Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) cho thấy các công ty có hành vi quản trị lợi nhuận nhiều nhất vào những năm niêm yết, đặc biệt là các công ty niêm yết trong giai đoạn khủng hoảng.

Omar Farooq and Meryem Benali (2012) cho thấy các công ty cổ phần có hành vi quản trị lợi nhuận trong suốt những năm niêm yết, tuy nhiên mức độ quản trị lợi nhuận của năm đầu niêm yết cao hơn những năm trước và sau niêm yết. Footer Page 19 of 21. Header Page 20 of 21. 10 Như vậy, có thể nói các động cơ chủ yếu dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận bao gồm: kỳ vọng của thị trường vốn, lợi ích từ các hợp đồng dựa trên lợi nhuận kế toán, các quy định về pháp lý của chính phủ và các quy định của các đối tượng có liên quan.

Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận DuCharme và các cộng sự (2000) cho rằng nhà quản trị có thể thông qua việc lựa chọn các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và ghi nhận các khoản thu và chi phí để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Verbruggen và các cộng sự (2008) cho rằng có 4 – bốn kỹ thuật quản trị lợi nhuận: quản trị lợi nhuận thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể (một tình huống cụ thể, một chuẩn mực kế toán cụ thể hay một ngành công nghiệp cụ thể), quản trị lợi nhuận thông qua phân bổ chi phí hay doanh thu, quản trị lợi nhuận thông qua công bố thông tin, và quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế. Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Becker và các cộng sự (1998) sử dụng mô hình Jones (1991) quan sát các công ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán và không do Big6 kiểm toán, kết quả cho thấy các công ty không do Big 6 kiểm toán quản trị lợi nhuận cao hơn các công ty do Big 6 kiểm toán. Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmin (2011) về tác động của cơ chế quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận với mẫu nghiên cứu gồm 196 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2004-2008.

Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty càng tăng thì hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng. Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) về hành vi quản Footer Page 20 of 21. Header Page 21 of 21. 11 trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Malaysia với mẫu nghiên cứu gồm 250 công ty trong giai đoạn 1990-2000 và sử dụng mô hình Jones (1991) để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy chất lượng công ty kiểm toán và thời gian hoạt động của công ty có tác động nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận.

Nghiên cứu của Soliman & Ragab (2013) sử dụng mô hình Jones (1991) đã quan sát 40 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 2007-2010 để xem xét các ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty, quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy các biến về hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi quản trị lợi nhuận, các biến chất lượng công ty kiểm toán và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch chiều với hành vi quản trị lợi nhuận. Samira Rahmani và các cộng sự (2013) nghiên cứu về tác động của quy mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn đến quản trị lợi nhuận sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trên mẫu gồm 75 công ty niêm yết tại Iran trong giai đoạn 2006-2010. Kết quả cho thấy cấu trúc vốn (tỷ lệ đòn bẩy tài chính) có ảnh hưởng nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận, nhưng nghiên cứu không tìm ra ảnh hưởng của biến quy mô công ty.

Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận Cohen và Zarowin (2008) đã tiến hành so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô, hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp và làm sáng tỏ mức độ ảnh hưởng tiêu cực của quản trị lợi nhuận tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy vào thời kỳ tiến hành hành vi quản trị lợi nhuận, các công ty đầu tư vượt quá mức tối ưu, và sau thời kỳ này, các công ty Footer Page 21 of 21. Header Page 22 of 21. 12 lại đầu tư thấp hơn mức tối ưu, dẫn đến số tiền đầu tư của các cổ đông chưa được sử dụng hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích của các cổ đông.

Nghiên cứu của Dechow & các cộng sự (1996) cho thấy các nhà đầu tư rất nhạy cảm với hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc cung cấp bằng chứng là có một sự sụt giảm khoảng 9% trong giá cổ phiếu của những công ty đang bị SEC - Cơ quan liên bang thực thi luật lệ chứng khoán của Mỹ điều tra về hành vi quản trị lợi nhuận. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của Dechow và các cộng sự (1995) – Modified Jones với một nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE trong năm 2010, tác giả Phạm Thị Bích Vân dựa theo kết quả nghiên cứu và đưa ra nhận định mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Kết quả này, trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Giáp Thị Liên (2015) và Nguyễn Thị Phương Hồng (2016).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ