Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu nƣớc ngoài Nhu cầu về kiểm soát và quản lý thông tin kế toán một cách liên tục đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển của KTTN. Chính vì vậy, KTTN luôn nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của các chuyên gia trên thế giới.
Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài nghiên cứu: Năm 1962, tác giả Joseph P.Vogel đã thông qua công trình nghiên cứu “Rudiments of Responsibility Accounting in Public Ulilities”. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc xây dựng và thiết lập KTTN trong DN tùy thuộc vào quy mô hoạt động, cơ cấu tổ chức và sự phân cấp quản lý của từng DN. KTTN phải được xây dựng trên cơ sở phân cấp quản lý nhằm thu thập thông tin cũng như kiểm soát thông tin tại các bộ phận, từ đó, thông tin cho nhà quản trị để ra quyết định một cách có hiệu quả.Gordon thông qua công trình nghiên cứu: “Toward a Theory of Responsibility Accounting”. Công trình này đề cập đến lý thuyết KTTN, trong đó, phân cấp quản lý là một khía cạnh quan trọng.
Cơ sở của KTTN là lý thuyết kinh tế về tổ chức. KTTN chỉ phát huy hiệu quả khi DN có phân cấp quản lý và có tổ chức. Lý thuyết tổ chức được nghiên cứu trong mối quan hệ với mức độ phân quyền trong DN. Tác giả cho rằng, khi nghiên cứu KTTN là nghiên cứu cả hai vấn đề kinh tế và xã hội, nếu bỏ quan một trong hai yếu tố trên thì việc thiết lập KTTN sẽ thất bại.
Theo tác giả, tổ chức hiệu quả nhất có ứng dụng trong việc thiết kế và sử dụng một hệ thống KTTN, hệ thống đó bao gồm: một là trung tâm chi phí và trung tâm lợi nhuận, hai là thiết lập các quy tắc xác định giá hàng hóa và dịch vụ mỗi công ty con, ba là thiết lập quyền và trách nhiệm của người quản lý với mỗi công ty, bốn là cấu trúc một phần thưởng khuyến khích hoạt động của mỗi nhà quản lý. Năm 1981, tác giả Ahmed Riahi-Belkaoui công bố công trình nghiên cứu “The relationship between self-disclosure style and attitudes to responsibility accounting” đăng trên tạp chí “Organization and Society, Vol. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu từ khái niệm, điều kiện thực hiện KTTN trong tổ chức, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với 55 bảng câu hỏi gửi cho các cá nhân như nhà quản trị các 6 cấp, nhân viên để đánh giá thái độ và trách nhiệm cá nhân trong công việc, đánh giá nhân tố con người ảnh hưởng đến hệ thống KTTN như thế nào? Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của tổ chức KTTN vì nhà quản trị phải tự chịu trách nhiệm về hiệu quả của đơn vị mình. Năm 1992, ba tác giả Nahum Melumad, Dilip Mookherjee và Stefan Reichelstein đã công bố nghiên cứu“A theory of responsibility centers”.
Nghiên cứu đã chỉ ra một trong những bộ phận quan trọng nhất cấu thành KTTN là các trung tâm. Các TTTN được xây dựng phù hợp với cơ cấu hoạt động của từng tổ chức. Năm 2009, nhóm tác giả Joda và các cộng sự đã thông qua công trình nghiên cứu “The Extent of applying Responsibility Acounting in the Jordanian hotels”. Nghiên cứu được thực hiện tại Jordan về mức độ ứng dụng KTTN trong các khách sạn ở Jordan nhằm chỉ ra tầm quan trọng của việc áp dụng KTTN và xác định mức độ ứng dụng KTTN trong các khách sạn ở Jordan.
Tác giả đã gửi bảng câu hỏi tới 12 khách sạn năm sao và 15 khách sạn bốn sao nằm ở Amani. Kết quả nghiên cứu cho thấy các khách sạn ở Jordan đã xác định các trung tâm trách nhiệm và thực hiện lập dự toán một cách rõ ràng và được liên kết với thành quả đã lập kế hoạch với thành quả thực tế. Cũng trong năm 2009, tác giả Fowzia Rehana đã công bố công trình nghiên cứu “Responsibility Acounting Practice of Non-banking Financial Institutions: Bangladesh Perspective” đăng trên tạp chí “Journal of Business and Technology Dhaka, Vol-2, Issure – 2, Northern University Bangladesh”. Nghiên cứu chỉ ra sự hài lòng về hệ thống KTTN của các ngân hàng tại Bangladesh được dUy trì ở mức độ thỏa đáng.
Trong nghiên cứu khác của cùng tác giả năm 2011, công trình “Use of Responsibility Acounting and Measure the Satisfaction Levels of Service Organizations in Bangladesh” đăng trên tạp chí “International Review of Business Research Papers. Tác giả đã thực hiện điều tra 88 tổ chức dịch vụ trên cơ sở ngẫu nhiên, từ tháng bảy đến tháng chín năm 2010 tại Bangladesh, sau đó sử dụng phân tích hồi quy để kiểm tra mức độ tác động của các nhân tố đến công tác kế toán. Kết quả của nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đến công tác tổ chức 7 KTTN, đó là: sự phân cấp quản lý, nhận thức của nhà quản trị, công tác khen thưởng và kỹ thuật đo lường hiệu quả công tác KTTN.Kishna Moorthy, Ong Oi Voon, Samsuri, M.Gopalan, King-Tak Yew thông qua công trình nghiên cứu “Application of Information Technology in Management Accounting Decision Making” đăng trên tạp chí “International Journal of Acedemic Research in Business and Social Sciences, March 2012, Vol. 3” đã phân tích việc sử dụng CNTT trong KTQT nói chung và KTTN nói riêng.
Tốc độ phát triển như vũ bão của CNTT sẽ dẫn tới sự thay đổi thường xuyên thì các chuẩn mực kế toán vẫn tồn tại trong nhiều năm mà không có sự thay đổi lớn. Vì vậy, mối quan hệ giữa KTTN và CNTT là rất mật thiết và quan trọng đối với cả tổ chức lớn và nhỏ. Nghiên cứu chỉ ra rằng áp dụng CNTT trong kế toán sẽ giúp đơn giản hóa quá trình tính toán, trình bày tốt hơn, nhanh hơn về dữ liệu kinh doanh, giúp các nhà quản trị đưa ra các quyết định có hiệu quả. Năm 2013, tác giả Al Hanini đã thông qua công trình nghiên cứu “The Extent of Implementing Accounting Features in the Jordanian Banks”, đăng trên tạp chí “European journal of business anf management.
Tác giả nghiên cứu mức độ thực hiện KTTN bằng cách gửi 55 câu hỏi nghiên cứu tới các nhà quản trị ngân hàng tại Jordan như: Tổng giám đốc, giám đốc chi nhánh, quản lý, trợ lý và người lao động để thu thập dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng ở Jordan áp dụng KTTN trên các khía cạnh như: phân chia các bộ phận của cơ cấu tổ chức thành các TTTN, phân quyền cho người quản lý của các TTTN với quyền hạn rõ ràng, phân bổ chi phí và doanh thu cho các TTTN theo khả năng của trung tâm, sử dụng dự toán để kiểm soát và đánh giá thành quả hoạt động của các TTTN thông qua việc so sánh thành quả thực tế và kế hoạch đã đề ra, báo cáo phân tích sự chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch, có sự tồn tại của hệ thống khen thưởng liên quan tới kết quả của các TTTN. Cũng trong năm 2013, tác giả Alpesh T.Patel thông qua công trình nghiên cứu “Responsibility Accounting: A Study in Theory and Practice”, đăng trên tạp chí “Indian Journal Of Applied Research, Accountancy.Kết quả nghiên cứu của bài báo cho thấy hệ thống KTTN rất hữu ích trong các công ty có quy 8 mô lớn, sản xuất sản phẩm đa dạng, có cơ cấu tổ chức phân chia thành các phòng, ban và mỗi phòng ban đều có người quản lý chịu trách nhiệm về công việc chuyên môn của phòng, ban đó như công ty TNHH Unilever.Muthulakshmi đã thực hiện nghiên cứu với tiêu đề “Examining The Role Of Responsibility Accounting In Organizational Structure” đăng trên tạp chí “International Journal Of Scientific Research. Tác giả đã nghiên cứu vai trò của KTTN trong cơ cấu tổ chức quản lý.
Nếu hoạt động kinh doanh của công ty càng mở rộng quy mô và phát triển thì càng cần có sự phân cấp quản lý, nhu cầu ủy quyền và trách nhiệm sẽ được xây dựng trên quy mô của doanh nghiệp. KTTN cũng được sử dụng để tìm ra nguyên nhân chênh lệch giữa dự toán và thực tế, từ đó nhà quản trị tìm ra các biện pháp khắc phục hoạt động của bộ phận mình theo hướng mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp. Tác giả Philip Owino (2017) đã công bố công trình nghiên cứu “The Current Status of Responsibility Acounting in Uganda Public Universities” đăng trên tạp chí “Donnis Journal of Business and Finance Management Rerearch, Vol 3(1) pp. Bài nghiên cứu tập trung vào việc kiểm tra tác động trung gian của quan hệ ủy quyền trong mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và KTTN tại các khoa của trường đại học công lập Uganda.
Kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ ủy quyền là trung gian trong mối liên hệ giữa phân cấp quản lý và KTTN. Điều này giải thích cho việc đề xuất quan hệ ủy quyền là phương tiện khả thi, minh bạch và hiệu quả nhất trong mối quan hệ giữa phân cấp quản lý và KTTN. Các nghiên cứu trong nƣớc KTQT nói chung và KTTN nói riêng được nghiên cứu tại Việt Nam hơn 25 năm gần đây, khi nền kinh tế thị trường ngày một phát triển đòi hỏi hệ thống kế toán cần được hoàn thiện. Trên thế giới, KTTN đã được nghiên cứu và áp dụng rất thành công đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, tuy nhiên tại Việt Nam, KTTN chưa được áp dụng rộng rãi.
Một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau: Năm 2011, tác giả Trần Thị Vinh đã thực hiện luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần tập đoàn Vina” tại Đại học Kinh tế 9 TP. Trong nghiên cứu này, trên cơ sở phương pháp dUy vật biện chứng, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp hệ thống cấu trúc và phân tích, tác giả đã làm rõ nội dUng về lý luận, tình hình thực trạng và từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống KTTN tại Công ty. Cũng trong năm 2011, tác giả Đỗ Thị Xuân Thu cũng thực hiện luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện kế toán đánh giá trách nhiệm bộ phận tại Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk)” tại Đại học Kinh tế TP.