CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Sự Cần Thiết Vấn Đề Nghiên Cứu Trong những năm qua, kiều hối đã đóng góp một phần lớn vào tổng vốn từ nước ngoài đối với sự tăng trưởng kinh tế, có khi lượng vốn kiều hối này vượt qua cả viện trợ phát triển chính thức (ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Theo Ngân hàng thế giới (NHTG, 2014), dòng chảy kiều hối trên toàn thế giới vào năm 2013 là 542 tỷ đô la Mỹ, trong đó 404 tỷ đô la Mỹ thì được chuyển vào các nước đang phát triển tăng 3.5% so với năm 2012, ước tính dòng chảy kiều hối vào năm 2016 có thể lên đến 680 tỷ đô la Mỹ. Sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào các nguồn tài chính trong nước mà còn chịu sự tác động từ nguồn vốn nước ngoài, thậm chí với các nước đã phát triển hay các nước đang phát triển.
Nhưng nhìn chung, các nguồn vốn đều tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Nhiều bài nghiên cứu đã làm rõ chi tiết về sự ảnh hưởng của các nguồn vốn nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế, như ODA và FDI. Hai nguồn vốn này đều đem lại nguồn lợi cho tăng trưởng kinh tế rất khả quan. Nhưng tính đến nay thì các nghiên cứu về vai trò của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế chưa được sáng tỏ khi so sánh với 2 nguồn ODA và FDI.
Thực tế thấy rằng kiều hối góp phần bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống ở các nước ngày càng rõ rệt. Bên cạnh đó, sự gia tăng của các dòng chảy kiều hối sẽ làm tăng giá và sức mua của đồng nội tệ, tăng cầu trong nước. Đồng thời, sự gia tăng này vừa hạn chế xuất khẩu và khuyến khích nhập khẩu nên làm trung hòa các dòng tiền kiều hối chuyển vào trước đó. Do đó, kiều hối được xem là nguyên nhân dẫn đến làm suy giảm thặng dư thương mại.
Vì vậy, cần xem xét liệu kiều hối có tác động tích cực hay tiêu cực tới nền kinh tế ở một quốc gia.1, kiều hối tăng nhanh hơn nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức từ nước ngoài và ít biến động hơn so với nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở 3 các nước đang phát triển. Từ năm 1996 theo hình 1.1, giá trị kiều hối đã vượt qua giá trị viện trợ phát triển chính thức và trở thành nguồn thứ hai quan trọng của ngoại hối, chỉ đứng sau nguồn FDI. Sự ổn định của kiều hối là một lợi thế so với các nguồn vốn khác. Mặc dù FDI chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các nguồn vốn từ nước ngoài nhưng lại chịu sự biến động qua thời gian.
Chính nhờ tính chất ổn định của kiều hối đã làm giảm bớt sự biến động đến từ FDI nên giúp tăng trưởng kinh tế ổn định hơn. Nguồn: Bản tóm tắt về kiều hối và phát triển số 22 theo World Bank (2014).1: Dòng chảy kiều hối và các nguồn khác đối với những nước đang phát triển. Khi thấy được tầm quan trọng của kiều hối đối với sự tăng trưởng kinh tế của các quốc qua. Bài nghiên cứu sẽ trình bày các đặc trưng của kiều hối như các kênh chuyển kiều hối.
Đồng thời, bài nghiên cứu sẽ xem xét chi tiết xu hướng kiều hối chảy về ở khu vực Châu Á–Thái Bình Dương qua các năm và biến động của dòng chảy kiều hối trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế nhằm đánh giá được tiềm năng ở khu vực này. Các Kênh Chuyển Kiều Hối Dòng chảy kiều hối được chuyển qua hai kênh là kênh phi chính thức và kênh chính thức (NHTG, 2011). Dù hình thức nào thì kiều hối vẫn là nguồn quan trọng của khoản thu ngoại tệ đối với nhiều nền kinh tế. Qua kênh chính thức, chúng ta có thể thống kê được số lượng kiều hối đạt được trong từng giai đoạn một cách tương đối và chính xác.
Đồng thời, sự phát triển của kiều hối qua các năm cũng được thể hiện rõ hơn qua kênh này. Đối với các kênh chuyển tiền phi chính thức cũng rất đa dạng. Các kênh phi chính thức thực chất chính là chuyển tiền mặt, bằng cách bản thân đưa tiền về hay nhờ những người thân, bạn bè mang hộ về quê hương của mình. Việc đảm bảo an toàn khi chuyển tiền của kênh phi chính chính thức về mặt an ninh gần như không có, mà nó chỉ dựa vào sự quen thân.
Do đó, có một lượng không nhỏ kiều hối do người lao động trực tiếp cầm về hoặc nhờ bè bạn, người thân cầm về. Một kênh chuyển kiều hối khác được chuyển phi pháp bởi các phi công, tiếp viên hàng không hay những người thường xuyên di chuyển giữa các quốc gia. Kiều hối được gửi về bằng kênh phi chính thức thì đơn giản, ít phức tạp hơn. Hơn nữa, ở các kênh chính thức còn tốn phí dịch vụ chuyển tiền trong khi phí chuyển ở kênh phi chính thức lại rẻ hơn rất nhiều nhưng có nhiều rủi ro.
Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại kênh phi chính thức vẫn chiếm ưu thế hơn hẳn (Barajas, Chami, Fullenkamp, Gapen, & Montiel, 2009). Đây cũng là một thách thức lớn mà các ngân hàng trung ương đang phải đối mặt. Thách thức đã đặt ra buộc các nước cần có chính sách và cố gắng làm thay đổi cái nhìn cũng như suy nghĩ tâm lí của người di cư lao động về việc chuyển tiền nhằm đánh giá đúng giá trị thật sự của kiều hối trong từng thời điểm. Qua đó, kiểm tra được mối quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế một cách chính xác hơn.
Xu Hướng Của Kiều Hối Đến Khu Vực Châu Á–Thái Bình Dương Châu Á-Thái Bình Dương là một khu vực trên Trái Đất nằm gần hoặc nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, bao gồm nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á, Đông Nam Á, Australasia và châu Đại Dương. Các nước thuộc Châu Á-Thái Bình dương gồm 48 nước theo ấn phẩm “Những chỉ số chính của Châu Á –Thái Bình Dương 2014” của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á. Mẫu nghiên cứu gồm 27 nước thuộc khu vực này mà có dữ liệu kiều hối khá đầy đủ trong giai đoạn 2000-2013. Theo NHTG (2011) cho thấy có 3% dân số thế giới di cư quốc tế tương đương 215 triệu người, trong đó 93% di cư vì mục đích kinh tế.
Và đặc biệt là khu vực Châu Á-Thái Bình Dương chiếm 1/3 số lượng dân di cư trên thế giới. Các số liệu này góp phần làm rõ hơn giá trị mà kiều hối có thể đem lại cho tăng trưởng kinh tế của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.2 thể hiện giá trị kiều hối tiếp nhận từ nước ngoài của 10 nước lớn nhất trên thế giới, riêng đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã chiếm 6 trên 10 thành viên, thuộc 10 nước tiếp nhận lớn nhất thế giới vào năm 2013. Theo Unescap (2014), những nước nhận kiều hối lớn nhất được ghi nhận vào năm 2013 là Ấn Độ (gần 70 tỷ đô la Mỹ), Trung Quốc (60 tỷ đô la Mỹ), Philippines (25 tỷ đô la Mỹ), và Mexico (22 tỷ đô là Mỹ), và một số nước khác bao gồm như Nigeria, Ai Cập, Bangladesh, Pakistan, Việt Nam và Ukraine. Tuy nhiên, tỷ lệ kiều hối thường lớn ở các nước có GDP thấp hơn, do đó tỷ lệ kiều hối trên GDP đứng đầu là Tajikistan (52%), sau là Cộng hòa Kyrgyz (31%), Nepal và Moldova (cả hai đều 25%) và Samoa và Lesotho (cả hai đều 23%) vào năm 2012.
Cho thấy giá trị kiều hối này lớn hơn cả nguồn vốn ODA ở các nước. Kiều hối đóng một vai trò kinh tế vĩ mô đáng kể. Do đó, kiều hối đã trở thành công cụ chính góp phần điều hành chính sách của nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ. Bên cạnh đó, kiều hối cũng phản ánh sự chênh lệch về cơ hội tăng trưởng giữa các khu vực với nhau.2: 10 quốc gia tiếp nhận kiều hối lớn nhất thế giới Kiều hối ngày càng được chuyển về với giá trị lớn nên chi phí chuyển kiều hối về các nước ngày càng giảm trong những năm gần đây nhưng nó vẫn ở mức cao ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và các quốc gia nhỏ có mức độ phát triển tài chính còn kém.
Chi phí chuyển tiền cũng là một nguyên nhân mà kiều hối được chuyển qua kênh phi chính thức. Thông thường, những nước có mức độ phát triển tài chính thấp thì chí phí chuyển tiền cao hơn. (2012), những nước càng có mức độ phát triển tài chính càng cao thì càng giúp kiều hối tác động lên tăng trưởng kinh tế một cách mạnh mẽ hơn vì chi phí chuyển tiền rẻ hơn nên kiều hối được chuyển qua kênh chính thức nhiều hơn. Tuy nhiên theo Giuliano, P.
and Ruiz-Arranz, M. (2008) thì kiều hối có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở những nước có mức độ phát triển tài chính kém và giúp cải thiện cho sự hạn chế của thị trường tài chính, góp phần phân bổ vốn hiệu quả hơn ở các quốc gia. Bài nghiên cứu sẽ đi vào tìm hiểu đối với khu vực Châu Á-Thái bình dương thì kiều hối và phát triển tài chính có mối quan hệ bổ sung hay thay thế cho nhau. Kiều Hối Ở Các Nước Châu Á–Thái Bình Dương Trong Thời Kỳ Khủng Hoảng 2007-2009 Theo Unescap (2014), không những dòng chảy kiều hối không giảm trong thời kỳ khủng hoảng so với dòng chảy FDI và ODA của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương mà còn tăng từ 114 tỷ đô la Mỹ năm 2008 lên 117 tỷ đô la Mỹ vào năm 2009 (hình 1.3: Dòng chảy kiều hối ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, 1990-2013 Cũng như theo bảng 1.1, kiều hối không bị biến động nhiều mà còn tăng lên trong thời gian khủng hoảng tài chính vì người thân ở nước ngoài gửi tiền về để giúp đỡ gia đình ở quê nhà như Bangladesh, China, Georgia, Lao PDR, Samoa, Vanuatu.
Đó là điểm mấu chốt cho thấy kiều hối có vai trò quan trọng trong sự ổn định kinh tế. Dù trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới giai đoạn 2007-2009 thì kiều hối vẫn ổn định hơn FDI và ODA. Theo Unescap (2014), một vài đất nước thuộc khu vực Châu Á-Thái bình Dương như Kyrgyzstan, Nepal, Samoa, Tajikistan và Tonga thì có tỷ lệ kiều hối trên GDP trên 20%. Mặc dù, giá trị kiều hối chiếm tỷ trọng lớn nhưng kiều hối chủ yếu được sử dụng vào chi tiêu cuộc sống hằng ngày.
Tính chất ổn định, ít biến động 8 của nó cũng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với các gia đình chủ yếu dùng để trang trải cuộc sống khó khăn của họ.