chương 1 có thể thấy rằng, thông qua quá trình tìm hiểu những nghiên cứu đã được thực hiện tại Việt Nam và trên thế giới, có thể thấy được tầm quan trọng của thông tin kế toán đối với doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư, tác động của các yếu tố, đặc biệt là yếu tố đặc điểm của hội đồng quản trị, đến chất lượng thông tin kế toán, cũng như có cái nhìn khái quát hơn về kết quả đã đạt được trong thời gian vừa qua. Luận văn sẽ kế thừa và phát huy những kết quả đạt được này để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các đặc điểm hội đồng quản trị đến chất lượng thông tin kế toán tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN 2.
Lý thuyết về hội đồng quản trị 2. Khái niệm hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là một hệ thống quản lý và định hướng nhằm thúc đẩy hoạt động lâu dài của doanh nghiệp trong một thị trường minh bạch, có sự tham gia của các cổ đông. Vai trò của hội đồng quản trị Hội đồng quản trị là một giải pháp của thị trường nhằm giải quyết vấn đề trong việc tổ chức doanh nghiệp. Vấn đề này phát sinh giữa các cổ đông – chủ sở hữu công ty và nhà quản lý – những người có xu hướng không đủ thận trọng hoặc đáng tin cậy khi quản lý tài sản của người khác.
Hội đồng quản trị được thành lập do các cổ đông bầu ra nhằm đại diện cho quyền lợi của mình. Vai trò quan trọng nhất của hội đồng quản trị đó là vai trò giám sát. Ở đây là giám sát hoạt động điều hành và ra quyết định của nhà quản lý. Theo Hermalin và Weisbach (2003), hội đồng quản trị tồn tại không chỉ nhằm mục đích đáp ứng các yêu cầu về mặt pháp lý, mà nó còn là một giải pháp của thị trường nhằm hỗ trợ giảm thiểu những vấn đề phát sinh ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Theo Anderson, Mansi, và Reeb (2004), các chủ nợ mong muốn hội đồng quản trị có trách nhiệm giám sát, đánh giá, xử lý khi có sai phạm trong việc quản lý doanh nghiệp và giám sát báo cáo tài chính. Còn theo Alves (2011), hiệu quả kiểm soát nội bộ, trong đó có bao gồm hội đồng quản trị giúp hạn chế việc điều chỉnh kết quả báo cáo của các nhà quản lý. Hội đồng quản trị có trách nhiệm kiểm soát chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính, 16 từ đó kiểm soát hành vi của các nhà quản lý, nhằm đảm bảo rằng những hành vi này phù hợp với lợi ích của các bên liên quan. Hội đồng quản trị không chỉ tác động đến hiệu suất làm việc của doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến việc phân phối chi phí trong doanh nghiệp.
Ví dụ khi giám đốc điều hành cũng đồng thời là chủ tịch hội đồng quản trị, mức thù lao cho giám đốc điều hành có thể bị điều chỉnh cao lên. Như vậy có thể thấy hội đồng quản trị được thành lập nhằm hai mục đích chính. Thứ nhất là kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp, đem lại kết quả kinh doanh tốt nhất. Thứ hai là tối thiểu hóa chi phí đại diện phát sinh do những hành vi vì lợi ích cá nhân của các nhà quản lý.
Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Trong suốt những năm 1960 và 1970, các nhà kinh tế học đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa chủ sở hữu và quản lý thông qua hợp đồng đại diện. Lý thuyết đại diện được đề cập đến đầu tiên bởi Adam Smith. Sau đó được Jesen và Meckling phát triển và công bố vào năm 1976. Lý thuyết đại diện được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề làm thế nào để người đại diện sẽ hành động vì lợi ích cao nhất của chủ sở hữu khi có sự bất cân xứng về thông tin mà lợi thế thuộc về họ, và họ có lợi ích khác với lợi ích của những người chủ sở hữu này.
Jesen và Meckling (1976) đưa ra quan điểm như sau: Sự tách biệt giữa chủ sở hữu và nhà quản lý có thể dẫn đến việc nhà quản lý không hành động nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích của các cổ đông mà sẽ hành động vì lợi ích cá nhân, do đó cần có một cơ chế kiểm soát nhằm bảo vệ lợi ích của các cổ đông này. Lý thuyết đại diện cho rằng một doanh nghiệp không phải là thực thể thống nhất, duy nhất. Lý thuyết đại diện đã chỉ ra được mối quan hệ doanh nghiệp, cổ đông, nhà quản lý và các chủ nợ, có mục tiêu chung với nhau là lợi ích. Nhưng mỗi đối tượng có quan điểm về lợi ích khác nhau, trong khi chủ sở hữu kỳ vọng những 17 người đại diện hành động và ra quyết định vì lợi ích của chủ sỡ hữu, tuy nhiên thực tế là không phải lúc nào những người đại diện này cũng ra quyết định vì lợi ích lớn nhất của chủ sở hữu, mà họ sẽ tìm cách tối đa hóa lợi ích cá nhân mà không cần quan tâm đến những chi phí mà chủ sở hữu phải bỏ ra.
Chính vì thế, điều kiện tiên quyết là tối đa hóa lợi ích các bên từ đó nhà quản lý có thể điều hành dưới sự giám sát của cổ đông. Chính vì sự khác biệt về lợi ích như vậy, nên chủ sở hữu sẽ phải gánh chịu thêm chi phí đại diện nhằm hạn chế những hành động sai lệch của nhà quản lý, các loại chi phí đó bao gồm: - Chi phí giám sát (Monitoring Cost): Chi phí cho việc tăng cường giám sát hành động và việc ra quyết định của nhà quản lý. - Chi phí ràng buộc (Bonding Cost): Chi phí phải trả thêm cho nhà quản lý nhằm đảm bảo một cách tương đối là họ sẽ không làm tổn hại đến lại ích của chủ sở hữu. - Chi phí phụ trội (Residual Cost): Chi phí mà chủ sở hữu phải gánh chịu do sự khác biệt về lợi ích.
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề được lý thuyết này đặt ra đó là cấu trúc hội đồng quản trị như thế nào sẽ đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Trong đó sự tách biệt vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành, mức độ độc lập của các thành viên hội đồng quản trị được nói đến rất nhiều trong các nghiên cứu về lý thuyết đại diện. Theo Fama và Jensen (1983), hội đồng quản trị có nhiệm vụ giám sát ban quản lý nhằm bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu. Theo Lam và Lee (2008), nếu không tách biệt vai trò của chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành sẽ dẫn đến quyền lực tuyệt đối nằm trong tay một người, ảnh hưởng đến khả năng giám sát của ban quản lý.
18 Lý thuyết đại diện còn thảo luận về mức độ độc lập của các thành viên hội đồng quản trị hay số lượng thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành. Theo Dalton (1998), hội đồng quản trị có đa số thành viên không tham gia điều hành sẽ có hiệu quả hơn. Còn theo Cadbury (1992), một trong những vai trò quan trọng nhất của hội đồng quản trị đó là giám sát, nếu thành viên hội đồng quản trị có mối quan hệ mật thiết với ban quản lý, vai trò giám sát của họ sẽ trở nên kém hiệu quả. Như vậy, thông qua lý thuyết đại diện, ta có thể thấy rằng hội đồng quản trị có vai trò rất lớn trong việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp và nhà quản lý, từ đó giúp đảm bảo chất lượng thông tin kế toán công bố trên báo cáo tài chính được chính xác nhất.
Lý thuyết về chất lượng thông tin kế toán Do sự tăng trưởng mạnh của thị trường vốn kể từ những năm 1960 và sự phát triển của các lý thuyết tài chính, các lĩnh vực nghiên cứu kế toán đã được mở rộng. Những thông tin chứa đựng trong các con số kế toán ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Các nghiên cứu của Ball và Brown (1968) đã đưa ra các bằng chứng chứng minh rằng thông tin kế toán tác động đến giá cổ phiếu và tầm quan trọng của kế toán đối với các nhà đầu tư. Để hiểu hơn về tầm quan trong của thông tin kế toán, trong phần này, luận văn sẽ đi tìm hiểu một số khái niệm và lý thuyết liên quan đến chất lượng thông tin kế toán.
Kế toán Theo Elliot, Barry & Elliot, Jamie (1993) định nghĩa kế toán là quá trình truyền đạt thông tin tài chính về một tổ chức kinh tế cho người sử dụng như cổ đông và nhà quản lý. Còn theo hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA), kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu về các giao dịch, sự kiện phát sinh và tính toán kết quả của các hoạt động kinh tế, tài chính của một tổ chức nhằm cung cấp thông tin 19 giúp Ban Giám đốc có thể căn cứ vào đó mà ra các quyết định quản lý, đồng thời cung cấp thông tin cho những người có lợi ích và trách nhiệm liên quan. Tại Việt Nam, luật kế toán định nghĩa: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động.2 Thông tin kế toán Theo Gelinas và Dull (2010) định nghĩa thì thông tin kế toán là những sự kiện, con số hữu ích đối với người sử dụng nhằm mục đích ra quyết định. Theo Susanto (2008), thông tin kế toán được sử dụng để đưa ra các dự báo về tương lai doanh nghiệp, hoạch định kế hoạch hàng năm, kế hoạch chiến lược và các lựa chọn cho việc ra quyết định.
Tình hình tài chính được phản ánh chủ yếu thông qua kết quả của thông tin kế toán. Thông tin kế toán giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với các nhà đầu tư và nhà quản trị, nếu thông tin kế toán được sử dụng không phù hợp có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong việc đầu tư cũng như các kế hoạch hoạt động, kinh doanh của đơn vị. Thông tin kế toán là ngôn ngữ của việc ra quyết định tài chính của doanh nghiệp. Thông tin kế toán giúp người sử dụng đưa ra những quyết định tài chính tốt hơn.
Từ đó ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực và hoạt động của thị trường, tác động đến hiệu quả của nền kinh tế. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán có thể bên trong hoặc bên ngoài doanh nghiệp.