đặt vấn đề, sự cần thiết yếu của đề tài, mục tiêu, nội dung của đề tài và phương pháp thực hiện đề tài. Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết của điều kiện lao động, bao gồm khái niệm, ảnh hưởng và chi tiết về phương pháp chính dùng để đánh giá. Tình hình sản xuất bao bì Nhựa tại Việt Nam, sản phẩm cũng như quy trình công nghệ, nguyên liệu, thiết bị của nhà máy sản xuất bao bì nhựa Công ty Cổ phần GBP sẽ được trình bày trong Chương 3. Việc đánh giá điều kiện lao động (môi trường lao động, tâm sinh lý lao động) là nội dung chính của Chương 4.
Cuối cùng, một số kết luận và khuyến nghị sẽ được tóm tắt ở phần cuối của Luận văn. 18 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan về điều kiện lao động: 2. Điều kiện lao động: Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan hệ với người lao động tại chỗ làm việc tạo nên một điều kiện lao động nhất định cho con người trong quá trình lao động.
Tình trạng tâm sinh lý của con người trong khi lao động tại nơi làm việc được coi như một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động (Nguyễn Văn Quán, 2004). Trong thực tế, tại nơi làm việc, hình thành cùng một lúc nhiều yếu tố điều kiện lao động. Các yếu này được phân làm hai nhóm: môi trường lao động và tâm sinh lý lao động. Môi trường lao động: Môi trường lao động là nơi tập hợp các thành phần vật chất, xã hội mà ở đó con người tiến hành các hoạt động sản xuất, công tác.
Tại đây thường xuất hiện rất nhiều yếu tố, có thể rất tiện nghi, thuận lợi cho người lao động, song cũng có thể rất xấu, khắc nghiệt đối với con người. Các yếu tố xuất hiện trong môi trường lao động là do quá trình hoạt động của các máy móc, thiết bị, do tác động và sự thay đổi của đối tượng lao động, tác động của con người trong khi thực hiện quá trình công nghệ gây ra, đồng thời cũng còn do các yếu tố của điều kiện khí hậu, thiên nhiên gây nên (Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh lao động, 2014). Vi khí hậu: Vi khí hậu là trạng thái vật lý của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ vận chuyển của không khí. Các yếu tố này phải đảm bảo ở giới hạn nhất định, phù hợp với sinh lý của con người.
Nhiệt độ cao hơn hoặc thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, làm suy nhược cơ thể, tê liệt sự vận động, do đó làm tăng mức độ nguy hiểm khi sử dụng máy móc, thiết bị. Nhiệt độ quá cao sẽ gây các bệnh về thần kinh, tim mạch, bệnh ngoài da, say nóng, say nắng, đục nhãn mắt 19 nghề nghiệp. Nhiệt độ quá thấp sẽ gây ra các bệnh về hô hấp, bệnh thấp khớp, khô niêm mạc, cảm lạnh… Độ ẩm cao có thể dẫn đến tăng độ dẫn điện của vật cách điện, tăng nguy cơ nổ do bụi khí, cơ thể khó bài tiết qua mồ hôi. Các yếu tố tốc độ gió, bức xạ nhiệt nếu cao hoặc thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép đều ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây bệnh tật và giảm khả năng lao động của con người (Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, 2016).
Tiềng ồn: Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm. Làm việc trong điều kiện có tiếng ồn dễ gây các bệnh nghề nghiệp như điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén. Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ. Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh, dễ dẫn đến tai nạn lao động (Hoàng Văn Bính, 2007).
Rung: Rung là những dao động của vật dụng, máy móc, thiết bị nào đó. Rung là vấn đề phổ biến trong sản xuất. Ngày nay, máy móc được sử dụng nhiều nên số người tiếp xúc với rung cũng ngày một tăng. Các máy móc gây rung với các tần số khác nhau, biên độ khác nhau sẽ gây hại cho cơ thể theo những cách khác nhau (rung toàn thân, rung cục bộ) (Hoàng Văn Bính, 2007).
Bức xạ, phóng xạ: Các nguồn bức xạ như: ánh sáng hay sự chiếu sáng, tia laser, tia hồng ngoại, tia cực tím…Có thể gây ra hiện tượng say nắng, giảm thị lực (do bức xạ hồng ngoại), đau đầu, chóng mặt, giảm thị lực, bỏng (do bức xạ tử ngoại) và dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Phóng xạ là một là dạng đặc biệt của bức xạ. Tia phóng xạ phát ra do sự biến đổi bên trong hạt nhân nguyên tử của một số nguyên tố và khả năng ion hoá vật chất. Những nguyên tố đó gọi là nguyên tố phóng xạ.
20 Các tia phóng xạ gây tác hại đến cơ thể người lao động dưới dạng: gây nhiễm độc cấp tính hoặc mãn tính; rối loạn chức năng của thần kinh trung ương, nơi phóng xạ chiếu vào bị bỏng hoặc rộp đỏ, cơ quan tạo máu bị tổn thương gây thiếu máu, vô sinh, ung thư, tử vong (Trần Văn Đại, 2017). Ánh sáng: Trong đời sống và lao động, con mắt người đòi hỏi điều kiện ánh sáng thích hợp. Chiếu sáng thích hợp sẽ bảo vệ thị lực, chống mệt mỏi, tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, đồng thời tăng năng suất lao động. Khi cường độ và kỹ thuật chiếu sáng không đảm bảo tiêu chuẩn quy định, (thường là quá thấp) ngoài tác hại làm tăng phế phẩm, giảm năng suất lao động.
về mặt kỹ thuật an toàn còn có thể làm tăng khả năng gây tai nạn lao động do không nhìn rõ hoặc chưa đủ thời gian để mắt nhận biết sự vật (thiếu ánh sáng); do lóa mắt (ánh sáng chói quá) (Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, 2016). Bụi: Bụi là những hạt nhỏ của vật chất rắn, tồn tại trong không khí; nguy hiểm nhất là bụi có kích thước từ 0,5 - 5 micrômét; khi hít phải loại bụi này sẽ có 70 % - 80 % lượng bụi đi vào phổi và làm tổn thương phổi hoặc gây bệnh bụi phổi (Trần Văn Đại, 2017). Mức độ nguy hiểm, có hại của bụi phụ thuộc vào tính chất lý học, hóa học của bụi. Bụi có thể gây bệnh ở đường hô hấp, bệnh ngoài da, tổn thương mắt, gây ung thư.
Chất độc, hơi khí độc: Hóa chất ngày càng được dùng nhiều trong sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng cơ bản như: Chì, Asen, Crôm, Benzen, rượu, các khí bụi, các dung dịch axít, bazơ, kiềm, muối, các phế liệu, phế thải khó phân hủy. Hóa chất độc có thể ở trong trạng thái rắn, lỏng, khí, bụi,. tùy theo điều kiện nhiệt độ và áp suất (Trần Văn Đại, 2017). Hoá chất độc thường được phân loại thành các nhóm sau: - Nhóm 1: Chất gây bỏng kích thích da như Axít đậm đặc, Kiềm đậm đặc,.
- Nhóm 2: Chất kích thích đường hô hấp như Chlor, ammonia, SO3,. - Nhóm 3: Chất gây ngạt như các oxít carbon (CO2, CO), mê tan (CH4),. 21 - Nhóm 4: Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương như H2S (mùi trứng thối), xăng,. - Nhóm 5: Chất gây độc cho hệ thống cơ thể như hydrocarbon các loại (gây độc cho nhiều cơ quan), benzen, phenol, chì, asen.
Khi tiếp xúc với hóa chất độc, người lao động có thể bị nhiễm độc qua đường tiêu hóa, đường hô hấp hoặc qua da. Trong đó, theo đường hô hấp là nguy hiểm nhất và chiếm tới 95 % trường hợp nhiễm độc. Chất độc thâm nhập vào cơ thể và tham gia các quá trình sinh hoá có thể đổi thành chất không độc, nhưng cũng có thể biến thành chất độc hơn. Một số chất độc xâm nhập vào cơ thể và tích tụ lại.
Chất độc cũng có thể được thải ra khỏi cơ thể qua da, hơi thở, nước tiểu, mồ hôi, qua sữa. tùy theo tính chất của mỗi loại hóa chất (Đỗ Hàm, 1999). Vi sinh vật có hại: Một số nghề người lao động phải tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng, côn trùng, nấm mốc như các nghề: chăn nuôi, lò mổ gia súc, chế biến thực phẩm, người làm vệ sinh đô thị, người làm lâm nghiệp, nông nghiệp, người phục vụ tại các bệnh viện, khu điều trị, điều dưỡng phục hồi chức năng, các nghĩa trang,. Tâm sinh lý lao động: 2.
Sinh lý lao động: Sinh lý lao động nghiên cứu những phản ứng sinh lý (hệ tim mạch, hệ hô hấp…) đối với các yếu tố trong lao động (lao động nặng nhọc, stress. Sinh lý lao động góp phần đánh giá lao động (gánh nặng thể lực) một cách khách quan, là cơ sở để cải thiện điều kiện lao động được cải thiện, mang lại năng suất, hiệu quả lao động cao mà người lao động tốn ít sức lực (Tổng Liên đoàn Lao Động Việt Nam, 2016). Một số đánh giá đặc trưng bao gồm: - Tiêu hao năng lượng: lao động thể lực càng nặng mức tiêu hao năng lượng càng lớn thì nhu cầu năng lượng được cung cấp càng phải tăng - Khối lượng mang vác và tư thế mang vác: sao cho hợp lý, tiết kiệm năng lượng. Hiện nay, ở nước ta lao động mang vác trong một số công việc vẫn còn là phổ biến.
22 Việc huấn luyện tư thế mang vác đúng là rất cần thiết để phòng ngừa tai nạn và chấn thương trong lao động. - Phản ứng điều nhiệt của cơ thể (trong môi trường lao động quá nóng hoặc quá lạnh): để cần có khẩu phần ăn và nước uống thích hợp cho người lao động. - Phản ứng hô hấp: Lao động thể lực làm tăng rõ rệt sự trao đổi khí, tăng nhanh nhịp thở và không khí phổi nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của cơ thể về số lượng O 2 và thải CO2 thừa. - Thích ứng của hệ tim mạch: Biểu hiện dễ thấy nhất của hệ tim mạch thích ứng với lao động thể lực là tăng nhịp tim, tăng thể tích tâm thu và rút ngắn vòng tuần hoàn do hoạt động thể lực làm tăng nhu cầu O2.