Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp sản xuất bao bì nhựa tại Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng bình quân hơn 25%/năm, chiếm tỷ trọng lớn nhất với 37,43% tổng cơ cấu ngành nhựa và đạt giá trị thị trường bao bì tổng hợp gần 410 triệu USD/năm. Mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người tại nước ta đã tăng từ 33 kg/người/năm lên khoảng 41 kg/người/năm. Toàn quốc hiện có hơn 900 nhà máy đóng gói bao bì nhựa, trong đó khoảng 70% cơ sở sản xuất tập trung dày đặc tại Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Song hành cùng sự bùng nổ sản xuất, an toàn và vệ sinh lao động đang là bài toán cấp bách khi toàn quốc từng ghi nhận 7.981 vụ tai nạn lao động làm 8.251 người thương vong trong một năm, với Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương chiếm tỷ lệ tai nạn lao động cao nhất, tăng 12,86% so với giai đoạn trước. Tại các nhà máy bao bì quy mô công nghiệp, người lao động phải đối mặt thường xuyên với nhiệt thừa, tiếng ồn cơ khí, bụi nhựa và gánh nặng cơ xương khớp kéo dài.

Đề tài tập trung nghiên cứu, nhận diện mối nguy và đánh giá toàn diện điều kiện lao động tại Nhà máy sản xuất bao bì nhựa thuộc Công ty Cổ phần Nhựa GBP, tọa lạc tại Khu công nghiệp Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh. Doanh nghiệp sở hữu quy mô sản xuất 15.000 tấn sản phẩm/năm trên tổng diện tích 6.138 m2. Nghiên cứu khảo sát chuyên sâu 4 công đoạn nòng cốt gồm thổi màng, cắt tạo hình, tái chế trộn keo và tái chế ó hạt nhựa trong mốc thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 12/2017. Kết quả đề tài thiết lập cơ sở dữ liệu quan trắc thực nghiệm, hỗ trợ ban lãnh đạo doanh nghiệp tối ưu hóa môi trường làm việc cho 45 công nhân trực tiếp, giảm thiểu rủi ro bệnh nghề nghiệp và đáp ứng các quy chuẩn vệ sinh lao động quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết điều kiện lao động và ec-gô-nô-mi (Ergonomics) trong công nghiệp sản xuất hiện đại. Điều kiện lao động được định nghĩa là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức, kinh tế, tự nhiên và xã hội biểu hiện qua công cụ, phương tiện, quy trình công nghệ và môi trường làm việc tác động trực tiếp đến sức khỏe, tâm sinh lý của người lao động.

Khung lý thuyết phân chia điều kiện lao động thành hai nhóm nhân tố cốt lõi:

  • Nhóm môi trường lao động: Bao gồm các yếu tố vật lý và hóa học như vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, bức xạ nhiệt), tiếng ồn sản xuất, rung chuyển cơ học, độ rọi chiếu sáng, nồng độ bụi hô hấp và hơi khí độc sinh ra từ quá trình gia nhiệt polymer.
  • Nhóm tâm sinh lý lao động: Bao gồm mức độ nặng nhọc thể lực (tiêu hao năng lượng, tư thế gò bó, khối lượng mang vác) và mức độ căng thẳng thần kinh - tâm lý (nhịp điệu thao tác lặp lại, mức độ tập trung chú ý, áp lực an toàn).

Về mô hình đánh giá, đề tài tích hợp đối sánh hai công cụ phân loại:

  1. Phương pháp phân loại theo Công văn số 2753/LĐTBXH-BHLĐ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, xác định điểm tổng hợp Y qua hàm số bậc hai: Y = -1,2X^2 + 17,1X + 2 (với X là điểm trung bình của các chỉ tiêu khảo sát) để phân chia thành 6 loại điều kiện lao động từ loại I (nhẹ nhàng) đến loại VI (đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).
  2. Phương pháp đánh giá hiện đại của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động (phát triển dựa trên Quyết định số 33n của Liên bang Nga), khảo sát 14 yếu tố độc hại và phân cấp theo thang 7 mức từ mức 1 (rất tốt) đến mức 7 (nguy hiểm), có xét đến tác động cộng hưởng đa yếu tố.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra toàn bộ (census sampling) với cỡ mẫu 45/45 người lao động trực tiếp tại xưởng sản xuất, tương ứng 100% lực lượng vận hành máy. Lý do lựa chọn điều tra toàn bộ là nhằm loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu, phản ánh chính xác đặc thù của từng vị trí công việc gồm 32 công nhân công đoạn cắt (chiếm 71,1%), 9 công nhân công đoạn thổi (chiếm 20%), 2 công nhân trộn keo (chiếm 4,4%) và 2 công nhân vận hành máy ó (chiếm 4,4%).

Dữ liệu môi trường lao động được thu thập bằng hệ thống thiết bị đo đạc chuyên dụng đạt chuẩn kiểm định: máy General WCDFM 8912 đo vi khí hậu, máy Extech đo độ rọi ánh sáng, máy Rion NL-42 đo mức áp suất âm thanh, máy Ono Sokki VR-6100 đo rung động cơ học, máy Hi-Q Model CF 902 kết hợp cân phân tích Sartorius độ chính xác 0,00001 gam xác định hàm lượng bụi trọng lượng, cùng máy Sibata 300 và máy quang phổ so màu Shimadzu UV mini-1240 phân tích nồng độ hơi khí độc. Dữ liệu tâm sinh lý được thu thập thông qua phiếu khảo sát tiêu chuẩn hóa kết hợp kỹ thuật bấm giờ chụp ảnh ngày làm việc và quan sát nhân trắc học tư thế. Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê và đối chiếu nghiêm ngặt với hệ thống Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia: QCVN 26:2016/BYT (vi khí hậu), QCVN 24:2016/BYT (tiếng ồn), QCVN 22:2016/BYT (chiếu sáng), QCVN 27:2016/BYT (độ rung) và Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT về 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu thực địa đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng môi trường và gánh nặng lao động tại Nhà máy GBP:

Thứ nhất, môi trường vi khí hậu chịu tác động nhiệt thừa đáng kể từ quá trình nung chảy hạt nhựa ở nhiệt độ 196°C đến 225°C của 120 hệ thống máy đùn thổi. Nhiệt độ không khí tại xưởng dao động từ 31,5°C đến 32,9°C, trong đó khu vực tái chế ghi nhận mức nhiệt cao nhất (32,9°C). Mặc dù nhà xưởng được trang bị quạt công nghiệp và màng nước giải nhiệt, nền nhiệt thực tế vẫn tiệm cận ngưỡng giới hạn trên của quy chuẩn làm việc nhẹ đến trung bình, gây mất nước và suy giảm thể lực nhanh chóng.

Thứ hai, áp lực tiếng ồn cơ khí phát sinh liên tục và bao phủ toàn bộ diện tích 3.000 m2 của xưởng sản xuất. Cường độ âm thanh dao động từ 79,3 dBA đến 82,4 dBA. Mức ồn đạt đỉnh 82,4 dBA tại khu vực công đoạn Cắt do hoạt động đồng thời của 90 máy dập cắt tạo hình bao bì. Mặc dù thông số này chưa vượt ngưỡng giới hạn tối đa 85 dBA theo QCVN 24:2016/BYT cho ca làm việc 8 giờ, việc tiếp xúc liên tục với tiếng ồn dải tần rộng trong nhiều năm tạo nguy cơ cao suy giảm thính lực và căng thẳng thần kinh thực vật.

Thứ ba, gánh nặng cơ xương khớp và tư thế lao động gò bó phân bổ không đồng đều giữa các khâu. Tại công đoạn Thổi, Trộn keo và Ó phế phẩm, người lao động phải duy trì tư thế đứng làm việc tới 80% thời gian ca, thường xuyên cúi gập thân người với góc nghiêng thân lớn hơn 30 độ và bốc dỡ thủ công các bao hạt nhựa nặng từ 10 kg đến 25 kg theo chu kỳ 15 phút/lần. Ngược lại, tại công đoạn Cắt, công nhân ngồi làm việc nhưng đối mặt với tính đơn điệu cao độ: mỗi công nhân hoàn thành trung bình 1.152 sản phẩm/ca với nhịp độ thao tác dán tem, đóng gói lặp lại liên tục khoảng 25 giây/sản phẩm, gây quá tải tĩnh lên các nhóm cơ cánh tay và vùng vai gáy.

Thứ tư, lực lượng sản xuất có độ tuổi rất trẻ nhưng thiếu hụt kỹ năng tự bảo vệ an toàn. Nhóm lao động từ 19 đến 30 tuổi chiếm 56% tổng số nhân sự (riêng độ tuổi 19 đến 25 chiếm 31%), và 55,5% người lao động mới chỉ có thâm niên từ 1,5 đến 2 năm. Hơn nữa, nhà máy chưa thành lập phòng y tế cơ sở và chưa trang bị đầy đủ dụng cụ sơ cấp cứu ban đầu.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả qua biểu đồ phân bố và bảng ma trận đối sánh chỉ tiêu, sự tương quan giữa các yếu tố môi trường và tâm sinh lý lao động tại 4 công đoạn sản xuất bộc lộ rõ nét những hạn chế trong thiết kế mặt bằng công nghệ. Sự so sánh giữa hai phương pháp đánh giá điều kiện lao động mang lại góc nhìn quản trị sâu sắc:

Theo phương pháp truyền thống tại Công văn 2753/LĐTBXH-BHLĐ, việc tính điểm tổng hợp dựa trên giá trị trung bình X vô hình trung đã làm loãng mức độ nguy hại của các yếu tố cục bộ. Những chỉ tiêu đạt chất lượng tốt (như chiếu sáng tự nhiên, nồng độ bụi nằm trong ngưỡng cho phép) đã kéo giảm điểm số tổng quát, khiến một số vị trí có nguy cơ cao về ec-gô-nô-mi chỉ được xếp ở loại II hoặc loại III (điều kiện lao động bình thường hoặc độc hại nhẹ).

Trái lại, phương pháp thang 7 mức của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động bộc lộ tính ưu việt vượt trội nhờ nguyên tắc lấy giá trị phân loại của yếu tố độc hại cao nhất kết hợp cơ chế nâng mức khi có từ 3 yếu tố mức 3 trở lên tác động phối hợp. Kết quả phân tích theo thang 7 mức đã xếp công đoạn Thổi và công đoạn Tái chế vào mức 4 (độc hại trung bình), phản ánh trung thực mối nguy cộng hưởng giữa nhiệt độ cao, tư thế cúi gập và gánh nặng mang vác tải trọng tĩnh.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên xuất phát từ việc dù toàn bộ 100% dây chuyền máy móc được nhập mới, hệ thống thông gió cục bộ tại các họng đùn nhiệt chưa được cách ly triệt để. Đồng thời, việc bố trí quy trình cấp liệu hạt nhựa 25 kg còn phụ thuộc hoàn toàn vào sức người mà chưa áp dụng các thiết bị nâng hạ trợ lực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện điều kiện làm việc và nâng cao năng suất cho nhà máy, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất triển khai:

  1. Giải pháp kỹ thuật công nghệ (Mục tiêu: Hạ nhiệt độ khu vực sản xuất xuống dưới 30°C và giảm tiếng ồn từ 3 đến 5 dBA; Thời gian: 3 - 6 tháng; Chủ thể thực hiện: Bộ phận Kỹ thuật và Bảo trì cơ điện):
  • Lắp đặt hệ thống chụp hút nhiệt và ống thoát khí cục bộ ngay trên đầu các họng đùn nhiệt (vùng nhiệt 196°C - 225°C) của 120 máy thổi để triệt tiêu nguồn nhiệt bức xạ phát tán ra không gian xưởng.
  • Lắp đặt đệm cao su giảm chấn và vách ngăn tiêu âm giữa khu vực 90 máy dập cắt với các lối đi chung nhằm hạn chế hiện tượng phản xạ âm thanh.
  • Đầu tư hệ thống tời nâng khí nén hoặc băng tải cấp liệu tự động tại bồn trộn keo và phễu máy ó nhằm loại bỏ hoàn toàn thao tác bốc vác thủ công các bao tải 25 kg lên cầu thang cao 1 mét.
  1. Tối ưu hóa tổ chức lao động và Ec-gô-nô-mi (Mục tiêu: Giảm 30% thời gian gánh nặng tư thế gò bó; Thời gian: 1 - 2 tháng; Chủ thể thực hiện: Quản đốc xưởng và Phòng Nhân sự):
  • Xây dựng cơ chế luân chuyển vị trí định kỳ giữa các công nhân tại khâu cắt và khâu thổi nhằm giải tỏa căng thẳng cơ bắp cục bộ.
  • Bố trí thời gian nghỉ ngắn xen kẽ: thay vì chỉ nghỉ giữa ca 30 phút chia 2 lần, cần áp dụng chế độ nghỉ chủ động 5 phút sau mỗi 90 phút thao tác liên tục đối với công nhân đứng máy cắt để phục hồi thị giác và cơ vai gáy.
  1. Nâng cao năng lực quản lý an toàn và y tế lao động (Mục tiêu: 100% lao động được đào tạo an toàn định kỳ, thiết lập trạm y tế chuẩn; Thời gian: Quý 1 năm kế hoạch; Chủ thể thực hiện: Ban Giám đốc và Cán bộ HSE):
  • Xây dựng phòng y tế tại chỗ với đầy đủ giường lưu bệnh, tủ thuốc sơ cấp cứu và cáng cứu thương theo quy chuẩn Bộ Y tế.
  • Biên soạn tài liệu và tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động chuyên sâu cho 56% lực lượng công nhân trẻ dưới 30 tuổi, tập trung vào kỹ thuật mang vác đúng tư thế và quy trình phản ứng nhanh khi có sự cố kẹt máy.
  1. Chuẩn hóa trang bị bảo hộ cá nhân (Mục tiêu: 100% người lao động tuân thủ sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân; Thời gian: Thực hiện ngay và rà soát định kỳ hàng quý; Chủ thể thực hiện: Phòng An toàn lao động):
  • Cung cấp nút bịt tai giảm ồn đạt chỉ số NRR trên 25 dB cho toàn bộ công nhân khâu cắt và khâu thổi.
  • Cấp phát găng tay cách nhiệt sợi chống cắt chuyên dụng cho công nhân thao tác tại máy gia nhiệt và khẩu trang lọc hơi hữu cơ hoạt tính cho công nhân khu vực tái chế hạt nhựa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Chuyên viên An toàn - Sức khỏe - Môi trường (HSE) tại các doanh nghiệp sản xuất nhựa và bao bì màng mỏng: Ứng dụng trọn bộ quy trình quan trắc 14 yếu tố, phương pháp lập bảng kiểm Ec-gô-nô-mi và kỹ thuật nhận diện mối nguy vật lý - hóa học tại xưởng sản xuất thực tế.
  2. Ban giám đốc và nhà quản lý nhà máy công nghiệp: Tiếp cận góc nhìn thực chứng về mối liên hệ giữa điều kiện lao động, sức khỏe của 45-50 công nhân với tỷ lệ hao hụt phế phẩm và năng suất vận hành 15.000 tấn sản phẩm/năm, từ đó đưa ra quyết định đầu tư cải tiến kỹ thuật chính xác.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Bảo hộ lao động: Sử dụng luận văn làm case study điển hình trong giảng dạy và nghiên cứu học thuật, đặc biệt là phương pháp đối sánh khoa học giữa Công văn 2753/LĐTBXH-BHLĐ và phương pháp thang 7 mức chuẩn quốc tế.
  4. Cơ quan quản lý nhà nước về thanh tra lao động và y tế dự phòng: Bổ sung nguồn tư liệu thực tiễn từ hiện trường sản xuất nhựa bao bì tại Thành phố Hồ Chí Minh để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và danh mục phân loại nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Ngành sản xuất bao bì nhựa tại Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với những mối nguy chính nào về điều kiện lao động? Người lao động trong ngành thường xuyên tiếp xúc với nhiệt độ cao từ 31,5°C đến 32,9°C do nhiệt bức xạ của máy đùn thổi (196°C - 225°C), tiếng ồn cơ khí liên tục lên đến 82,4 dBA tại khu vực máy dập cắt, hơi khí hữu cơ từ nhựa nóng chảy và gánh nặng cơ xương khớp khi đứng 80% thời gian ca hoặc bốc vác tải trọng 10 đến 25 kg.

  2. Vì sao có sự khác biệt về kết quả phân loại điều kiện lao động giữa hai phương pháp đánh giá trong nghiên cứu? Phương pháp theo Công văn 2753/LĐTBXH-BHLĐ sử dụng công thức tính điểm trung bình số học khiến các chỉ tiêu tốt làm giảm nhẹ mức độ của các yếu tố độc hại cục bộ. Ngược lại, phương pháp của Viện Khoa học An toàn và Vệ sinh Lao động theo thang 7 mức lấy điểm của yếu tố độc hại cao nhất và tính đến tác động cộng hưởng đa yếu tố, giúp phản ánh trung thực các rủi ro nghề nghiệp nghiêm trọng.

  3. Công đoạn nào trong nhà máy bao bì nhựa gây áp lực thể lực lớn nhất cho công nhân? Công đoạn Thổi và công đoạn Tái chế (Trộn keo, Ó phế phẩm) gây áp lực thể lực nặng nhất do người lao động phải đứng liên tục 80% ca làm việc, cúi gập người góc lớn hơn 30 độ và nâng chuyển thủ công các bao nguyên liệu từ 10 kg đến 25 kg mỗi 15 phút. Trong khi đó, khâu Cắt tuy được ngồi nhưng gây mỏi cơ vai gáy do nhịp độ lặp lại 1.152 sản phẩm/ca.

  4. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn vệ sinh lao động nào được áp dụng để đối chiếu đánh giá trong luận văn? Nghiên cứu đối chiếu kết quả đo đạc thực tế với hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bao gồm QCVN 26:2016/BYT (vi khí hậu nơi làm việc), QCVN 24:2016/BYT (tiếng ồn tiếp xúc cho phép), QCVN 22:2016/BYT (chiếu sáng công nghiệp), QCVN 27:2016/BYT (độ rung) và Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT của Bộ Y tế.

  5. Doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa cần ưu tiên giải pháp kỹ thuật nào để giảm thiểu rủi ro nhanh nhất? Doanh nghiệp cần ưu tiên lắp đặt hệ thống chụp hút nhiệt cục bộ tại các đầu đùn máy thổi để hạ nhiệt độ xưởng, trang bị nút bịt tai NRR trên 25 dB cho khu vực máy cắt dập và lắp tời nâng hỗ trợ bốc dỡ nguyên liệu 25 kg nhằm phòng ngừa thoái hóa cột sống cho nhóm lao động trẻ.

Kết luận

  • Đề tài đã hoàn thành xuất sắc việc khảo sát, đo đạc và đánh giá toàn diện điều kiện lao động tại 4 công đoạn sản xuất chính của Nhà máy Nhựa GBP quy mô 15.000 tấn/năm.
  • Nghiên cứu đã định lượng chính xác các điểm nghẽn môi trường lao động gồm nhiệt độ xưởng 31,5°C - 32,9°C, tiếng ồn dập cắt 82,4 dBA và gánh nặng tư thế đứng cúi gập chiếm 80% ca làm việc.
  • Luận văn đã chứng minh tính ưu việt của phương pháp đánh giá theo thang 7 mức so với phương pháp tính điểm trung bình truyền thống, giúp doanh nghiệp khoanh vùng chuẩn xác các vị trí nguy hại.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ 4 nhóm từ kỹ thuật cách ly nhiệt thừa, hỗ trợ nâng hạ Ec-gô-nô-mi, tái cơ cấu ca kíp nghỉ ngơi đến trang bị bảo hộ cá nhân chuyên dụng.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu thực nghiệm quý giá cho công tác quản lý môi trường và an toàn vệ sinh lao động trong ngành công nghiệp nhựa Việt Nam.

Kế hoạch hành động tiếp theo yêu cầu doanh nghiệp tiến hành lắp đặt hệ thống hút nhiệt cục bộ trong vòng 3 tháng tới và thiết lập chương trình quan trắc môi trường định kỳ 6 tháng/lần. Các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất nhựa cần chủ động đầu tư cải thiện điều kiện lao động ngay hôm nay để bảo vệ nguồn nhân lực và xây dựng nền tảng phát triển bền vững.