Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về từ nghề nghiệp Cho đến nay, địa hạt từ nghề nghiệp trong hệ thống vốn từ tiếng Việt chưa được chú ý nhiều. Trong Việt ngữ học, lịch sử nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp có thể hình dung theo hai hướng sau: - Hướng thứ nhất, vấn đề từ nghề nghiệp được các nhà Việt ngữ học đề cập đến trong các giáo trình từ vựng học và ngôn ngữ học.
Trong công trình Từ vựng học tiếng Việt hiện đại [120], Nguyễn Văn Tu khi trình bày đặc điểm hệ thống từ vựng tiếng Việt đã đề cập đến từ nghề nghiệp. Tuy nhiên, ông chỉ trình bày khái quát về từ nghề nghiệp, chưa đi sâu nghiên cứu một lớp từ nghề nghiệp cụ thể nào. Trong công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [21], Đỗ Hữu Châu cũng đã có những nghiên cứu về từ nghề nghiệp. Sau khi đưa ra khái niệm về từ nghề nghiệp, tác giả đã nêu ra đặc điểm hoạt động, phạm vi sử dụng và vai trò của từ nghề nghiệp.
"Từ nghề nghiệp chẳng những cần thiết cho sự giao tiếp trong từng ngành nghề thủ công hiện nay đang tồn tại với các ngành sản xuất công nghiệp tương ứng lại sẵn sàng chấp nhận các thuật ngữ khoa học biến chúng thành từ nghề nghiệp để "hiện đại hóa" mình" [21, 235]. Khi nghiên cứu từ vựng tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giáp coi từ nghề nghiệp được xem xét với tư cách là một lớp từ được phân xuất ra theo tiêu chí phạm vi hoạt động và sử dụng. Các tác giả như Hoàng Thị Châu trong Phương ngữ học tiếng Việt [28], các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến trong Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt [31] cũng đã đề cập đến từ nghề nghiệp và phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ nghữ khác như: thuật ngữ, từ địa phương, tiếng lóng. "Từ nghề nghiệp là một lớp từ bao gồm những đơn vị từ ngữ được sử dụng phổ biến trong phạm vi những người cùng làm một download by : skknchat@gmail.com 8 nghề nào đó.) Lớp từ nghề nghiệp tập trung chủ yếu ở những nghề mà xã hội ít quen như: nghề làm giấy, làm đồ gốm, làm sơn mài, nghề đúc đồng, nghề chài lưới" [31, 250 - 251].
Ở các công trình loại này, các nhà nghiên cứu không đi sâu tìm hiểu từ nghề nghiệp, chỉ tìm hiểu từ ngữ nghề nghiệp về mặt khái niệm, xác định đặc điểm, đề xuất các tiêu chí phân biệt chúng với từ ngữ toàn dân và với các lớp từ khác, chưa nghiên cứu sâu đặc điểm cấu tạo, đặc điểm định danh, ngữ nghĩa của từ nghề nghiệp. - Hướng thứ hai là nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp trong từng nghề cụ thể. Các công trình nghiên cứu theo hướng này đã chỉ ra những đặc điểm cụ thể của từ ngữ nghề nghiệp, cũng như xem xét từ nghề nghiệp trong mối quan hệ với văn hoá chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đã có các bài nghiên cứu, các đề tài điều tra, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ về từ ngữ của một số nghề nghiệp cụ thể đã được thực hiện, được công bố trên các tạp chí chuyên ngành, trong các hội thảo khoa học.
Đó là đề tài khoa học của các tác giả Nguyễn Văn Khang [124], Phạm Hùng Việt [125]; là các bài viết của tác giả Hoàng Trọng Canh [12; 13; 14; 15]; các luận văn, luận án của các tác giả:Nguyễn Văn An [1], Ngôn Thị Bích [8], Lương Vĩnh An [2], Nguyễn Thị Duyên [36], Nguyễn Hồng Yến [131], Nguyễn Hoàng Anh [3], Phạm Thị Thanh Hoài [58], Trần Thị Ngọc Hoa [57], Nguyễn Chí Quang [78], Nguyễn Phương Anh [4], Nguyễn Văn Dũng [35],.Các bài viết, các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn luận án đã được công bố trên đã nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp của một số nghề cụ thể theo hướng: thu thập, thống kê, phân loại từ ngữ nghề nghiệp, tìm hiểu mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với từ địa phương, từ toàn dân, thuật ngữ, khảo sát đặc điểm cấu tạo, định danh, nguồn gốc của từ ngữ nghề nghiệp. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu đó chỉ ở phạm vi hẹp, chủ yếu là từ ngữ các làng nghề truyền thống của một số địa phương, chưa phân tích sâu về định danh, ngữ nghĩa; chưa tìm hiểu phương diện ngôn ngữ - văn hóa của từ nghề nghiệp. Có thể thấy các công trình, bài báo hay luận văn nghiên download by : skknchat@gmail.com 9 cứu từ nghề nghiệp đã bước đầu tìm hiểu đặc điểm riêng của chúng và quan hệ của lớp từ nghề nghiệp với việc phản ánh thực tại cũng như đặc trưng văn hoá ở từng vùng, miền trong phạm vi cụ thể. Trong số các công trình nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp, đề tài khoa học cấp viện của Viện Ngôn ngữ học Từ ngữ nghề nghiệp gốm sứ Bát Tràng [124] do tác giả Nguyễn Văn Khang làm chủ nhiệm đã nghiên cứu khá toàn diện về từ ngữ nghề gốm sứ về các mô hình cấu tạo, nguồn gốc.
Đề tài đã thống kê được 861 đơn vị từ ngữ nghề gốm Bát Tràng, phân chia thành các tiểu trường để khảo sát. Coi từ nghề nghiệp thuộc phương ngữ xã hội, các thành viên tham gia đề tài này đã phân biệt từ nghề nghiệp với những loại từ cùng thuộc phương ngữ xã hội. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu các đặc điểm định danh của từ ngữ nghề gốm sứ, một yếu tố quan trọng cho thấy được những nét văn hóa làng nghề được phản ánh vào ngôn ngữ. Tình hình nghiên cứu về nghề chè và từ ngữ nghề chè Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về từ ngữ chỉ cây chè và từ ngữ nghề chè trong tiếng Việt.
Việc nghiên cứu vấn đề trên xuất hiện tản mạn hoặc ở phạm vi hẹp trong một số công trình thuộc các ngành nghiên cứu có liên quan như: kinh tế, cây công nghiệp nhẹ, văn hóa, y học… Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy những kết quả nghiên cứu về cây chè và nghề chè mà các công trình trên đạt được sẽ là một trong những tiền đề, công cụ góp phần giúp chúng tôi triển khai đề tài “Từ ngữ về nghề chè trong tiếng Việt”. Từ góc độ nghiên cứu văn hóa, các nhà văn hóa học đã nghiên cứu sự hình thành và phát triển của lịch sử dân tộc, cây chè nói chung và nghề làm chè nói riêng. Đồng thời với quá trình ấy là sự tiếp xúc, giao lưu giữa những người làm chè và giữa nghề làm chè với các nghề khác. Quá trình này nảy sinh và tích tụ những lớp từ ngữ liên quan đến cây chè, nghề chè và làm nên đặc trưng tư duy, văn hóa chè bổ sung cho sự đa dạng, phong phú của ngôn ngữ nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung.
download by : skknchat@gmail.com 10 Dưới góc độ nghiên cứu y học, các nhà khoa học đã chỉ ra: cây chè là một trong những cây công nghiệp đem lại nhiều mặt giá trị, trong đó, cây chè là “loài thảo dược” có tác dụng tốt cho sức khỏe con người: an thần và chữa bệnh. Từ góc độ kinh tế, các nhà kinh tế học nhận định: cây chè đem lại thu nhập kinh tế ổn định cho dân cư tại vùng trồng chè nói riêng và những người lao động, hoạt động trong nghề chè nói chung. Về tự nhiên, cây chè phủ xanh đất trống đồi núi trọc vùng trung du, đảm bảo hệ thực vật và tài nguyên nước. Về văn hóa, nghề làm chè giúp cho đời sống văn hóa của cư dân vùng trồng chè - tạo bản sắc riêng, thu hút sự quan tâm của các du khách trong và ngoài nước… Có thể kể ra một số tác giả với những công trình nghiên cứu về cây chè như: Tác giả Hoàng Văn Gia (1995) trong công trình: “Đổi mới mô hình tổ chức quản lí sản xuất - kinh doanh ở xí nghiệp công nông nghiệp chè Văn Hưng Yên Bái” đã từng bước nhận định, lí giải và đưa ra các giải pháp có tính chiến lược trong việc mô hình hóa cách tổ chức, kinh doanh trong xí nghiệp để từng bước đưa sản xuất kinh doanh chè theo hướng hiện đại hóa, nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế của cây chè.
Bên cạnh đó có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khác như: Nguyễn Đức Hạnh (2012), “Tổ chức lãnh thổ trồng và chế biến cây chè tỉnh Lâm Đồng”; Lê Hồng Dự (2013), “Giải pháp phát triển cây chè Shan Tuyết Mộc Châu”. Từ góc độ nghiên cứu nông nghiệp, có thể kể đến các nhà khoa học như: tác giả Nguyễn Thị Ngọc Bích (2002) với công trình: “Nghiên cứu đặc điểm hình thái giải phẫu lá, hom một số giống chè chọn lọc ở Phú Hộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng giống” nghiên cứu, thực nghiệm và chỉ ra các đặc điểm một số giống chè (tập trung chủ yếu phân tích đặc điểm lá - hom trong quá trình ươm trồng). Đây là những đặc điểm có tính chất quyết định đến sự phát triển và chất lượng của cây chè. Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình khác cũng có chung hướng nghiên cứu như: Hoàng Yến (2008), “Ảnh hưởng kĩ thuật hái đến sinh trưởng, năng suất và quần thể sâu bệnh hại cây chè tại nông trường Văn Hưng huyện Yên Bình tỉnh download by : skknchat@gmail.com 11 Yên Bái”; Nguyễn Thị Huyền (2010), “Phát triển ngành chè ở tỉnh Thái Nguyên”; Đặng Văn Thư (2010), “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và biện pháp kĩ thuật để mở rộng diện tích một số giống chè có triển vọng ở Việt Nam”….
Từ góc độ nghiên cứu công nghệ thực phẩm, chúng tôi nhận thấy có một số tác giả với các công trình nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Thị Như Hoa (2007) trong công trình: “Thiết kế nhà máy sản xuất chè năng suất 14 tấn nguyên liệu/ ngày” đã cho ta cái nhìn khái quát về việc thiết kế một nhà máy chế biến chè nói riêng và thiết kế nhà máy thực phẩm nói chung nhằm tăng năng suất thu hoạch.