Luận án tiến sĩ về phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội

Chuyên khảo nông nghiệp phân tích Luận án ts ktpt phát triển sinh kế theo hướng bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp ở ngoại thành hà, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Chuyên ngành

Kinh Tế Phát Triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

186
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN SINH KẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP Ở NGOẠI THÀNH THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

3. CHƯƠNG 3: ...

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp

Phát triển sinh kế theo hướng bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội đang trở thành một vấn đề cấp thiết. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các khái niệm và thực trạng phát triển sinh kế bền vững, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp. Đặc biệt, sự chuyển mình của nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch đang mở ra nhiều cơ hội cho người dân.

1.1. Khái niệm phát triển sinh kế bền vững

Phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp được hiểu là việc nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân mà không làm tổn hại đến môi trường. Điều này bao gồm việc áp dụng các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả.

1.2. Tình hình phát triển nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội

Ngoại thành Hà Nội có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp, nhưng vẫn gặp nhiều thách thức. Tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân. Cần có các chính sách hỗ trợ để phát triển bền vững.

II. Vấn đề và thách thức trong phát triển sinh kế nông nghiệp

Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, thiếu vốn đầu tư và chính sách chưa đồng bộ đang cản trở sự phát triển này.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp, như hạn hán và lũ lụt. Điều này làm giảm năng suất và thu nhập của người nông dân, đe dọa sự bền vững của sinh kế.

2.2. Thiếu vốn và chính sách hỗ trợ

Nhiều nông dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn đầu tư cho sản xuất. Chính sách hỗ trợ từ chính quyền còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của người dân trong việc phát triển sinh kế bền vững.

III. Phương pháp phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp

Để phát triển sinh kế bền vững, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Các giải pháp như tăng cường đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật và phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp là rất cần thiết.

3.1. Đào tạo và nâng cao năng lực cho nông dân

Đào tạo nông dân về kỹ thuật canh tác hiện đại và bền vững là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của người dân để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

3.2. Hỗ trợ phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp

Phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp là yếu tố then chốt để nâng cao thu nhập cho nông dân. Cần có các chính sách hỗ trợ quảng bá sản phẩm và kết nối giữa nông dân với các nhà tiêu thụ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra nhiều mô hình sinh kế bền vững thành công ở ngoại thành Hà Nội. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao thu nhập mà còn bảo vệ môi trường, tạo ra giá trị bền vững cho cộng đồng.

4.1. Mô hình nông nghiệp hữu cơ

Mô hình nông nghiệp hữu cơ đã chứng minh được hiệu quả trong việc nâng cao thu nhập cho nông dân. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường mà còn bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

4.2. Mô hình nông nghiệp tuần hoàn

Nông nghiệp tuần hoàn là một giải pháp bền vững, giúp giảm thiểu chất thải và tối ưu hóa tài nguyên. Mô hình này đã được áp dụng thành công tại một số địa phương, mang lại lợi ích kinh tế và môi trường.

V. Kết luận và tương lai của phát triển sinh kế bền vững

Phát triển sinh kế bền vững trong nông nghiệp ở ngoại thành Hà Nội cần được chú trọng hơn nữa. Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho người dân phát triển sinh kế.

5.1. Định hướng phát triển đến năm 2030

Đến năm 2030, cần có các chiến lược rõ ràng để phát triển sinh kế bền vững. Điều này bao gồm việc cải thiện hạ tầng, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và phát triển thị trường cho sản phẩm nông nghiệp.

5.2. Tầm quan trọng của sự hợp tác

Sự hợp tác giữa các bên liên quan, bao gồm chính quyền, doanh nghiệp và nông dân, là rất quan trọng để đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Chỉ có sự phối hợp chặt chẽ mới có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong lĩnh vực nông nghiệp.

10/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN SINH KẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về sinh kế theo hướng bền vững 1. Về sinh kế Tương đối nhiều công trình đề cập nội dung về sinh kế. Khái niệm sinh kế đầu tiên được nhóm nghiên cứu tổ chức WCED (nay còn được biết với tên gọi Ủy ban Brundtland) đưa ra năm 1987 là sự dự trữ đầy đủ về lương thực và tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu cơ bản.

Các học giả Robert Chambers và Gordon R. Conway (1991) đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (các kho, các tài nguyên, yêu cầu và quyền truy cập) và các hoạt động cần thiết tạo nên cách thức kiếm sống”. Cách tiếp cận sinh kế của hai học giả được cho là đầy đủ hơn mặc dù chỉ nhấn mạnh đến yếu tố quyền hoặc cơ hội được tiếp cận các loại nguồn vốn và được nhiều nhà khoa học vận dụng nghiên cứu. Kế thừa khái niệm trên, các học giả nhóm IDS cho rằng sinh kế gồm khả năng, tài sản (có nguồn lực xã hội và vật chất) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”.

Tiếp tục được phát triển từ các nghiên cứu trước, học giả Frank Ellis (2000) đưa ra khái niệm sinh kế bao gồm những tài sản (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và xã hội), các hoạt động và khả năng tiếp cận những tài sản này (thông qua trung gian là các thể chế và quan hệ xã hội) cùng nhau quyết định đến mức sống mà cá nhân hoặc hộ gia đình có được. Học giả đã chỉ ra năm loại vốn (tài sản) đều là những thành phần hữu ích khi phân tích về tài sản làm nền tảng cho các chiến lược sinh kế của cá nhân, hộ gia đình và nhấn mạnh cơ hội được tiếp cận nguồn vốn sinh kế. Trong đó, năm loại vốn đều là những thành phần hữu ích khi phân tích về tài sản làm nền tảng cho các chiến lược sinh kế của cá nhân và hộ gia đình. Nghiên cứu của nhóm DFID (2001) định nghĩa: “Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cả vật chất và các nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết để tạo nên cách kiếm sống”.

Các học giả đã chỉ ra yếu tố về khả năng thực hiện, cũng như các nguồn lực kinh tế, xã hội và tự nhiên mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ trong cuộc sống. Đây là khái niệm sinh kế được nhiều học giả kế thừa trong nghiên cứu thực tế. Theo định nghĩa từ điển tiếng Việt (2006), sinh kế được hiểu là: “Việc làm để kiếm ăn, để mưu sống”. Trong nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam, các học giả thường kế thừa quan điểm của các học giả nước ngoài đề xuất khái niệm sinh kế cho từng đối tượng, cộng đồng người cụ thể.

Học giả Trần Hồng Hạnh và cộng sự (2018) định nghĩa sinh kế là bao gồm những nguồn lực và hoạt động tiếp cận, sử dụng để tìm kiếm các cơ hội, động lực và khả năng để mưu sinh và phát triển của từng cá nhân, cộng đồng cư dân hoặc một quốc gia. Học giả Vũ Minh Tiến và cộng sự (2018) đề xuất khái niệm sinh kế là cách sinh sống, cách kiếm ăn, kế sinh sống, kế sinh nhai, là “một phương tiện” để đảm bảo các nhu cầu cần thiết của cuộc sống. Đó là sự kết hợp các nguồn lực đa dạng gồm các nguồn vốn (vật chất, con người, tự nhiên, tài chính) và các nhóm hỗ trợ chính thức và phi chính thức (nguồn vốn xã hội) để thực hiện các hoạt động sinh kế. Học giả Lê Anh Vũ (2022) chỉ ra sinh kế là cách thức để ổn định và bảo đảm cuộc sống dựa vào các năng lực của bản thân đặt dưới sự tác động của bối cảnh tự nhiên và kinh tế - xã hội.

Khái niệm này được xem xét ở góc độ chuyên ngành công tác xã hội nên nhấn mạnh đến năng lực cá nhân, gia đình và cộng đồng và khả năng tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ từ đó làm tăng hiệu quả các hoạt động công tác xã hội. Theo học giả Ngô Thị Phương Lan và cộng sự (2019) cho rằng sinh kế là “hoạt động phục vụ quá trình sinh sống của con người ở các xã hội khác nhau”, chính là cách thức mưu sinh của con người, đảm bảo thích nghi với môi trường sinh thái các vùng miền và môi trường xã hội nên hoạt động sinh kế chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái, văn hóa, tâm lý, xã hội của cộng đồng dân cư. Từ đó học giả chỉ ra khái niệm sinh kế tộc người là cách thức mưu sinh của các nhóm người, cộng đồng người cụ thể có chung một tộc danh. Đồng quan điểm với các học giả trên, học giả Hoàng Việt, Vũ Thị Minh và cộng sự (2020) cho rằng sinh kế của người dân là toàn bộ các khả năng, các tài sản vật chất và xã hội và các hoạt động cần thiết cho việc mưu sinh.

Từng cá nhân, mỗi gia đình đều lựa chọn sinh kế cụ thể để tồn tại và phát triển. Hoạt động sinh kế mang lại những điều kiện để chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, hộ gia đình được nâng cao, trước hết là điều kiện về thu nhập. Như vậy, các định nghĩa trên có điểm chung đều chỉ ra ba hợp phần quan trọng tạo nên một sinh kế là tài sản, năng lực và hoạt động cần thiết để kiếm sống; đây là các điều kiện quan trọng bảo đảm cho hoạt động sinh kế, quyết định sự tồn tại của các nhóm xã hội trong quá trình phát triển. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh sinh kế là một hiện tượng kinh tế - xã hội và không bất biến, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề xuất thỏa đáng về sinh kế trong lĩnh vực nông nghiệp ở ngoại thành thành phố trực thuộc trung ương.

Nhiều tác giả chưa nói đến các điều kiện bên ngoài một cách đủ mức để phát triển sinh kế. Về sinh kế theo hướng bền vững 1. Sinh kế theo hướng bền vững Có khá nhiều học giả đề cập tới sinh kế theo hướng bền vững, nhưng nhìn chung chưa phân tích một cách đầy đủ vấn đề này để khảo cứu sinh kế theo hướng bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp. Quan điểm về sinh kế theo hướng bền vững được tổ chức WCED đề cập năm 1987 với khái niệm an ninh sinh kế bền vững.

Một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững theo nhiều cách – thông qua quyền sở hữu đất đai, vật nuôi hoặc cây cối; quyền chăn thả, câu cá, săn bắn và hái lượm; thông qua việc làm ổn định với mức thù lao xứng đáng; hoặc thông qua các hoạt động biểu diễn tiết mục đa dạng (biểu diễn vở kịch, bản nhạc…). Kế thừa quan điểm này của hội đồng WCED, Robert Chambers and Gordon R. Conway (1991), cho rằng sinh kế bền vững có thể thích ứng và phục hồi sau cú sốc, căng thẳng, có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của mình; mang lại các cơ hội sinh kế theo hướng bền vững cho thế hệ tiếp theo; đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu cũng như trong cả ngắn và dài hạn. Sinh kế theo hướng bền vững có sự kết hợp của khả năng, công bằng và tính bền vững.

Tính bền vững của một sinh kế thể hiện trên 2 phương diện: bền vững về môi trường là khả năng bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, giữ gìn cho cho các thế hệ tương lai; bền vững về xã hội là khả năng giải quyết những căng thẳng và đột biến. Tiếp tục phát triển trên quan điểm của Robert Chambers and Gordon R. Conway (1991), nhóm nghiên cứu IDS (1998) chỉ ra một sinh kế bền vững khi nó có thể thích ứng với những căng thẳng, cú sốc, có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của mình, đồng thời không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Cùng quan điểm trên, Hanstad và cộng sự (2004) cũng nhấn mạnh sự bền vững của một sinh kế thể hiện qua khả năng phục hồi trước những tác động, hoặc thúc đẩy các khả năng và các nguồn tài sản hiện tại và trong tương lai nhưng không làm suy giảm đến các nguồn lực tự nhiên.

Học giả Neefjes (2002) cho rằng sinh kế của một cá nhân hay một hộ gia đình được xem là bền vững khi có thể đối phó và phục hồi khi xảy ra các căng thẳng và cú sốc cũng như duy trì hoặc làm tăng khả năng và tài sản của họ hiện tại và cả trong tương lai nhưng gây tổn hại đến các nguồn lực môi trường. Quan điểm của DFID (2001) về một sinh kế bền vững thể hiện ở 4 khía cạnh sau đây: (1) kiên cường đối mặt khi xảy ra sự căng thẳng và những cú sốc bên ngoài; (2) không có sự phụ thuộc vào hỗ trợ của bên ngoài (hoặc nếu có thì chính sự hỗ trợ này phải mang tính kinh tế và thể chế bền vững); (3) khả năng duy trì năng suất dài hạn và (4) không gây suy yếu sinh kế hoặc có sự thỏa hiệp để tạo cơ hội sinh kế cho người khác. Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng để thể hiện tính đa khía cạnh của một sinh kế bền vững đó là nhấn mạnh đến sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Tuy nhiên, rất ít sinh kế đủ điều kiện để đạt được sự bền vững trên cả bốn khía cạnh kể trên, chỉ có thể cân bằng tối ưu cho cả 4 khía cạnh.

Dựa trên quan điểm các học giả nước ngoài, các học giả Việt Nam đề xuất khái niệm sinh kế bền vững đối với từng nghiên cứu cụ thể. Nghiên cứu chuyển đổi sinh kế của các DTTS ở vùng biên giới Việt – Trung, học giả Trần Hồng Hạnh và cộng sự (2018) cho rằng sinh kế bền vững là “khi nó có khả năng đương đầu, khắc phục và phục hồi trước áp lực của những cú sốc, các rủi ro, những thay đổi tiêu cực không lường trước mà không làm suy thoái các nguồn sống, trong đó có nguồn tài nguyên”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên nước và môi trường, với những nghiên cứu và đề xuất cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý nước, cũng như các phương pháp bền vững trong sản xuất nông nghiệp.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật tài nguyên nước đề xuất sử dụng máy bơm có cột nước phù hợp thay thế máy bơm dã chiến tại tỉnh Hưng Yên, nơi trình bày các giải pháp cụ thể cho việc cải thiện hệ thống bơm nước. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ở huyện Cư M'gar tỉnh Đắk Lắk sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc tối ưu hóa sử dụng đất trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn đánh giá tình hình xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn Ba Vì cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý chất thải trong ngành chăn nuôi, một vấn đề quan trọng trong bảo vệ môi trường.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp các giải pháp thực tiễn cho các vấn đề hiện tại trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường.