CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN SINH KẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về sinh kế theo hướng bền vững 1. Về sinh kế Tương đối nhiều công trình đề cập nội dung về sinh kế. Khái niệm sinh kế đầu tiên được nhóm nghiên cứu tổ chức WCED (nay còn được biết với tên gọi Ủy ban Brundtland) đưa ra năm 1987 là sự dự trữ đầy đủ về lương thực và tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu cơ bản.
Các học giả Robert Chambers và Gordon R. Conway (1991) đưa ra khái niệm cụ thể hơn: “Sinh kế bao gồm khả năng, tài sản (các kho, các tài nguyên, yêu cầu và quyền truy cập) và các hoạt động cần thiết tạo nên cách thức kiếm sống”. Cách tiếp cận sinh kế của hai học giả được cho là đầy đủ hơn mặc dù chỉ nhấn mạnh đến yếu tố quyền hoặc cơ hội được tiếp cận các loại nguồn vốn và được nhiều nhà khoa học vận dụng nghiên cứu. Kế thừa khái niệm trên, các học giả nhóm IDS cho rằng sinh kế gồm khả năng, tài sản (có nguồn lực xã hội và vật chất) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”.
Tiếp tục được phát triển từ các nghiên cứu trước, học giả Frank Ellis (2000) đưa ra khái niệm sinh kế bao gồm những tài sản (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và xã hội), các hoạt động và khả năng tiếp cận những tài sản này (thông qua trung gian là các thể chế và quan hệ xã hội) cùng nhau quyết định đến mức sống mà cá nhân hoặc hộ gia đình có được. Học giả đã chỉ ra năm loại vốn (tài sản) đều là những thành phần hữu ích khi phân tích về tài sản làm nền tảng cho các chiến lược sinh kế của cá nhân, hộ gia đình và nhấn mạnh cơ hội được tiếp cận nguồn vốn sinh kế. Trong đó, năm loại vốn đều là những thành phần hữu ích khi phân tích về tài sản làm nền tảng cho các chiến lược sinh kế của cá nhân và hộ gia đình. Nghiên cứu của nhóm DFID (2001) định nghĩa: “Sinh kế bao gồm các năng lực, tài sản (cả vật chất và các nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết để tạo nên cách kiếm sống”.
Các học giả đã chỉ ra yếu tố về khả năng thực hiện, cũng như các nguồn lực kinh tế, xã hội và tự nhiên mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu nhập để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần hoặc có thể được sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ trong cuộc sống. Đây là khái niệm sinh kế được nhiều học giả kế thừa trong nghiên cứu thực tế. Theo định nghĩa từ điển tiếng Việt (2006), sinh kế được hiểu là: “Việc làm để kiếm ăn, để mưu sống”. Trong nghiên cứu thực tiễn ở Việt Nam, các học giả thường kế thừa quan điểm của các học giả nước ngoài đề xuất khái niệm sinh kế cho từng đối tượng, cộng đồng người cụ thể.
Học giả Trần Hồng Hạnh và cộng sự (2018) định nghĩa sinh kế là bao gồm những nguồn lực và hoạt động tiếp cận, sử dụng để tìm kiếm các cơ hội, động lực và khả năng để mưu sinh và phát triển của từng cá nhân, cộng đồng cư dân hoặc một quốc gia. Học giả Vũ Minh Tiến và cộng sự (2018) đề xuất khái niệm sinh kế là cách sinh sống, cách kiếm ăn, kế sinh sống, kế sinh nhai, là “một phương tiện” để đảm bảo các nhu cầu cần thiết của cuộc sống. Đó là sự kết hợp các nguồn lực đa dạng gồm các nguồn vốn (vật chất, con người, tự nhiên, tài chính) và các nhóm hỗ trợ chính thức và phi chính thức (nguồn vốn xã hội) để thực hiện các hoạt động sinh kế. Học giả Lê Anh Vũ (2022) chỉ ra sinh kế là cách thức để ổn định và bảo đảm cuộc sống dựa vào các năng lực của bản thân đặt dưới sự tác động của bối cảnh tự nhiên và kinh tế - xã hội.
Khái niệm này được xem xét ở góc độ chuyên ngành công tác xã hội nên nhấn mạnh đến năng lực cá nhân, gia đình và cộng đồng và khả năng tiếp cận với các nguồn lực hỗ trợ từ đó làm tăng hiệu quả các hoạt động công tác xã hội. Theo học giả Ngô Thị Phương Lan và cộng sự (2019) cho rằng sinh kế là “hoạt động phục vụ quá trình sinh sống của con người ở các xã hội khác nhau”, chính là cách thức mưu sinh của con người, đảm bảo thích nghi với môi trường sinh thái các vùng miền và môi trường xã hội nên hoạt động sinh kế chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái, văn hóa, tâm lý, xã hội của cộng đồng dân cư. Từ đó học giả chỉ ra khái niệm sinh kế tộc người là cách thức mưu sinh của các nhóm người, cộng đồng người cụ thể có chung một tộc danh. Đồng quan điểm với các học giả trên, học giả Hoàng Việt, Vũ Thị Minh và cộng sự (2020) cho rằng sinh kế của người dân là toàn bộ các khả năng, các tài sản vật chất và xã hội và các hoạt động cần thiết cho việc mưu sinh.
Từng cá nhân, mỗi gia đình đều lựa chọn sinh kế cụ thể để tồn tại và phát triển. Hoạt động sinh kế mang lại những điều kiện để chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân, hộ gia đình được nâng cao, trước hết là điều kiện về thu nhập. Như vậy, các định nghĩa trên có điểm chung đều chỉ ra ba hợp phần quan trọng tạo nên một sinh kế là tài sản, năng lực và hoạt động cần thiết để kiếm sống; đây là các điều kiện quan trọng bảo đảm cho hoạt động sinh kế, quyết định sự tồn tại của các nhóm xã hội trong quá trình phát triển. Các nghiên cứu đều nhấn mạnh sinh kế là một hiện tượng kinh tế - xã hội và không bất biến, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đề xuất thỏa đáng về sinh kế trong lĩnh vực nông nghiệp ở ngoại thành thành phố trực thuộc trung ương.
Nhiều tác giả chưa nói đến các điều kiện bên ngoài một cách đủ mức để phát triển sinh kế. Về sinh kế theo hướng bền vững 1. Sinh kế theo hướng bền vững Có khá nhiều học giả đề cập tới sinh kế theo hướng bền vững, nhưng nhìn chung chưa phân tích một cách đầy đủ vấn đề này để khảo cứu sinh kế theo hướng bền vững trong lĩnh vực nông nghiệp. Quan điểm về sinh kế theo hướng bền vững được tổ chức WCED đề cập năm 1987 với khái niệm an ninh sinh kế bền vững.
Một hộ gia đình có thể đạt được an ninh sinh kế bền vững theo nhiều cách – thông qua quyền sở hữu đất đai, vật nuôi hoặc cây cối; quyền chăn thả, câu cá, săn bắn và hái lượm; thông qua việc làm ổn định với mức thù lao xứng đáng; hoặc thông qua các hoạt động biểu diễn tiết mục đa dạng (biểu diễn vở kịch, bản nhạc…). Kế thừa quan điểm này của hội đồng WCED, Robert Chambers and Gordon R. Conway (1991), cho rằng sinh kế bền vững có thể thích ứng và phục hồi sau cú sốc, căng thẳng, có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của mình; mang lại các cơ hội sinh kế theo hướng bền vững cho thế hệ tiếp theo; đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu cũng như trong cả ngắn và dài hạn. Sinh kế theo hướng bền vững có sự kết hợp của khả năng, công bằng và tính bền vững.
Tính bền vững của một sinh kế thể hiện trên 2 phương diện: bền vững về môi trường là khả năng bảo tồn hoặc tăng cường các nguồn lực tự nhiên, giữ gìn cho cho các thế hệ tương lai; bền vững về xã hội là khả năng giải quyết những căng thẳng và đột biến. Tiếp tục phát triển trên quan điểm của Robert Chambers and Gordon R. Conway (1991), nhóm nghiên cứu IDS (1998) chỉ ra một sinh kế bền vững khi nó có thể thích ứng với những căng thẳng, cú sốc, có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản của mình, đồng thời không làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Cùng quan điểm trên, Hanstad và cộng sự (2004) cũng nhấn mạnh sự bền vững của một sinh kế thể hiện qua khả năng phục hồi trước những tác động, hoặc thúc đẩy các khả năng và các nguồn tài sản hiện tại và trong tương lai nhưng không làm suy giảm đến các nguồn lực tự nhiên.
Học giả Neefjes (2002) cho rằng sinh kế của một cá nhân hay một hộ gia đình được xem là bền vững khi có thể đối phó và phục hồi khi xảy ra các căng thẳng và cú sốc cũng như duy trì hoặc làm tăng khả năng và tài sản của họ hiện tại và cả trong tương lai nhưng gây tổn hại đến các nguồn lực môi trường. Quan điểm của DFID (2001) về một sinh kế bền vững thể hiện ở 4 khía cạnh sau đây: (1) kiên cường đối mặt khi xảy ra sự căng thẳng và những cú sốc bên ngoài; (2) không có sự phụ thuộc vào hỗ trợ của bên ngoài (hoặc nếu có thì chính sự hỗ trợ này phải mang tính kinh tế và thể chế bền vững); (3) khả năng duy trì năng suất dài hạn và (4) không gây suy yếu sinh kế hoặc có sự thỏa hiệp để tạo cơ hội sinh kế cho người khác. Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng để thể hiện tính đa khía cạnh của một sinh kế bền vững đó là nhấn mạnh đến sự bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Tuy nhiên, rất ít sinh kế đủ điều kiện để đạt được sự bền vững trên cả bốn khía cạnh kể trên, chỉ có thể cân bằng tối ưu cho cả 4 khía cạnh.
Dựa trên quan điểm các học giả nước ngoài, các học giả Việt Nam đề xuất khái niệm sinh kế bền vững đối với từng nghiên cứu cụ thể. Nghiên cứu chuyển đổi sinh kế của các DTTS ở vùng biên giới Việt – Trung, học giả Trần Hồng Hạnh và cộng sự (2018) cho rằng sinh kế bền vững là “khi nó có khả năng đương đầu, khắc phục và phục hồi trước áp lực của những cú sốc, các rủi ro, những thay đổi tiêu cực không lường trước mà không làm suy thoái các nguồn sống, trong đó có nguồn tài nguyên”.