Chương 1 của luận án, nghiên cứu sinh đã thực hiện được những vấn đề sau đây: 14 Thứ nhất, tác giả đã hệ thống, phân tích và những công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài nghiên cứu: Đầu tư phát triển công nghiệp tại nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Cụ thể, tác giả đã hệ thống và phân tích những mặt đạt được, những mặt hạn chế của các nghiên cứu liên quan đến đầu tư phát triển, công nghiệp, đầu tư phát triển công nghiệp, những nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển công nghiệp trên phạm vi của một quốc gia. Thứ hai, tác giả cũng đã phân tích và so sánh những quan điểm của các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài, để có thể tìm ra khoảng trống nghiên cứu để thực hiện nghiên cứu của mình, những vấn đề về mặt lý luận, những phương pháp và những kiến nghị trong mỗi nghiên cứu được tác giả phân tích, làm cơ sở kế thừa cho nghiên cứu của tác giả. 15 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 2. Ngành công nghiệp và vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế 2.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại ngành công nghiệp 2. Khái niệm ngành công nghiệp Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “ chế tạo, chế biến ” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật. Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất xã hội.
Công nghiệp bao gồm ba hoạt động chủ yếu là: Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy Sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông lâm ngư nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội. Hoạt động dịch vụ sửa chữa các loại sản phẩm công nghiệp nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng. Để thực hiện ba hoạt động cơ bản đó, dưới sự tác động của phân công lao động xã hội kết hợp với tiến bộ khoa học và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành nên hệ thống các ngành công nghiệp: khai thác, chế biến và dịch vụ sửa chữa. Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp.
Tính chất của hoạt động này là cắt đứt các đối tượng lao 16 động ra khỏi môi trường tự nhiên. Chế biến là hoạt động sử dụng sự tác động của cơ học, hóa học và sinh học làm thay đổi hình thức, tính chất, kích thước của các loại nguyên liệu nguyên thủy để tạo ra các loại sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến ra sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống. Quá trình chế biến từ một loại nguyên liệu có thể tạo ra được một loại sản phẩm tương ứng, và cũng có thể là một loại sản phẩm nào đó được tạo ra từ những loại nguyên liệu khác nhau. Sản phẩm trung gian là các sản phẩm được coi là nguyên liệu cho quá trình sản xuất công nghiệp để đưa vào sử dụng trong sản xuất hoặc tiêu dùng trong đời sống.
Sửa chữa là hoạt động không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu lao động trong các ngành sản xuất và kéo dài thời gian sử dụng của các sản phẩm dùng trong dời sống. Công nghiệp sửa chữa là hình thức có sau so với công nghiệp khai thác và chế biến. Lúc đầu các hoạt động này được thể hiện ngay trong các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân cư và do lực lượng lao động chính trong các ngành và lĩnh cực đó thực hiện. Sau đó, với sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất, dịch vụ, và do sự phát triển đa dạng hóa của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động sửa chũa có tính chất xã hội.
Với những nội dung được khái quát, trình bày ở trên có thể hiểu công nghiệp là một ngành kinh tế to lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hóa hẹp đó là bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình thức khác nhau. Và nếu xét trên góc độ kỹ thuật và hình thức tổ chức sản xuất thì công nghiệp còn được cụ thể hóa bằng các khái niệm khác nhau: công nghiệp và tiểu thụ công nghiệp, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, công nghiệp lớn và công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp nằm trong nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, công nghiệp quốc doanh và công nghiệp ngoài quốc doanh. Đặc điểm của ngành công nghiệp Nếu xét trên góc độ tổng hợp của các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội nên nền kinh tế chia thành nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dừng.
Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất, có thể coi là tổng thể của hai ngành cơ bản đó là nông nghiệp và công nghiệp, còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thủ của hai ngành đó. Từ ý nghĩa đó, cần phải xem xét các đặc điểm của sản xuất công nghiệp khác với sản xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất. - Thứ nhất, các đặc trưng về mặt kỹ thuật – sản xuất của công nghiệp được thể hiện như sau: + Về công nghệ sản xuất: do sản xuất trong công nghiệp chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ học, lý học và quá trình sinh học nhằm làm biến đổi hình dáng kích thước và tính chất của nguyên liệu để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, trong khi đó, sản xuất nông nghiệp lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu. Trong hoạt động lao động sản xuất, các phương pháp cơ, lý hóa chỉ (làm đất, chăm sóc, thủ lợi.) chỉ là những tác động tạo điều kiện môi trường sinh thái để phương pháp sinh học được thực hiện, làm biến đổi đối tượng lao động là cây trồng, vật nuôi, từ đó hình thành và phát triển, tạo ra các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người.
Nghiên cứu đặc trưng về công nghệ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học – công nghệ thích ứng với mỗi ngành. + Về sự biến đổi các đối tượng lao động sau mỗi chu kỳ sản xuất: các đối tượng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp, sau mỗi chu kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này sang các sản phẩm có 18 công dụng cụ thể hoàn toàn khác. Hoặc một loại nguyên liệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có các công dụng khác nhau. Trong khi đó, đối tượng lao động của sản xuất nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sau quá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu.
Nghiên cứu đặc trưng này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc tổ chức quá trình sản xuất và chế biến, khai thác và sử dụng tổng hợp nguyên liệu. + Về công dụng kinh tế của sản phẩm: trong khi sản phẩm nông nghiệp chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người và dùng làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thì sản phẩm công nghiệp có khả năng đáp ứng nhiều loại nhu cầu của sản xuất và đời sống, phát triển khoa học công nghệ của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp là ngành kinh tế duy nhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Đặc trưng này cho thấy vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó.
+ Về mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến quá trình sản xuất: Bản thân các ngành công nghiệp khác nhau chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với mức độ khác nhau: các ngành công nghiệp khai thác chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên với mức độ lớn hơn các ngành công nghiệp chế biến. Với sự phát triển của khoa học công nghệ công nghiệp vẫn có thể phát triển mạnh trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi. Thứ hai, đặc trưng kinh tế - xã hội của sản xuất: + Về trình độ xã hội hóa sản xuất: công nghiệp là ngành có trình độ xã hội hóa cao. Một sản phẩm công nghiệp thường là kết tinh lao động của nhiều đơn vị khác nhau, các đơn vị này có thể trong cùng một tổ chức, hoặc những tổ chức khác nhau được phân bổ ở những địa điểm khác nhau, thậm chí ở những nước khác nhau.
Sự liên kết giữa chúng, từ khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm đến 19 khâu tiêu thụ sản phẩm và thực hiện những dịch vụ sau bán hàng tạo thành chuỗi liên kết ràng buộc chặt chẽ với nhau. Quan hệ liên kết này không chỉ được thực hiện giữa các ngành với nhau, không chỉ giữa các doanh nghiệp trong phạm vi một nước, mà còn ở phạm vi giữa các nước. +Về đội ngũ lao động: sự phát triển của công nghiệp kéo theo sự phát triển của đội ngũ lao động công nghiệp. Do đặc điểm kỹ thuật sản xuất, công nghiệp đại diện cho phương thức sản xuất mới trong quá trình sản xuất công nghiệp đào tạo ra được một đội ngũ lao động có tư duy, có tác phong và kỷ luật cao, nhanh nhạy với sự thay đổi của môi trường và có những đổi mới mang tư duy cạch mạng.
Đội ngũ lao động đó trong giai cấp công nhân luôn luôn là bộ phận tiên tiến trong cộng đồng dân cư của mỗi quốc gia.