CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Công nghiệp, đặc trưng và vai trò của công nghiệp 1. Khái niệm về công nghiệp Theo Từ điển bách khoa toàn thư: Công nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo. Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật.
Theo Từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Văn Đạm: Công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, hoặc thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm. Giáo trình kinh tế và quản lý Công nghiệp của các tác giả Nguyễn Đình Phan và Nguyễn Kế Tuấn định nghĩa “Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất - một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội” [66. Như vậy, có thể thấy công nghiệp là một ngành kinh tế sản xuất vật chất gắn với việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên, chế biến, chế tạo các nguyên liệu khoáng vật, động vật, thực vật thành các sản phẩm đầu ra. Cũng theo Nguyễn Đình Phan và Nguyễn Kế Tuấn [66], Công nghiệp gồm 3 hoạt động chủ yếu: - Khai thác tài nguyên khoáng sản - Chế biến, chế tạo các tài nguyên khoáng sản, sản phẩm của nông, lâm, ngư nghiệp thành các loại sản phẩm khác nhau đáp ứng nhu cầu xã hội.
10 n - Sửa chữa các sản phẩm công nghiệp, máy móc nhằm khôi phục giá trị sử dụng của chúng. So với nông nghiệp và dịch vụ, công nghiệp có những đặc điểm khác biệt. - Khác với nông nghiệp, công nghiệp chủ yếu sử dụng các phương pháp cơ học, vật lý, hóa học hoặc quá trình sinh học làm thay đổi hình dạng, kích thước, tính chất của nguyên liệu đầu vào để tạo ra sản phẩm phục vụ sản xuất hoặc sinh hoạt. Nông nghiệp, trái lại, sử dụng các phương pháp tác động vào cây trồng, vật nuôi để nâng cao năng suất, nâng cao sức chống chịu, rút ngắn chu kỳ sản xuất.
Công nghiệp ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên hơn so với nông nghiệp. So với nông nghiệp, công nghiệp có trình độ xã hội hóa, phân công lao động, quản lý sản xuất cao hơn. - Khác với dịch vụ, Công nghiệp là ngành sản xuất vật chất. Sản phẩm của Công nghiệp là các sản phẩm hữu hình, có giá trị sử dụng - Công nghiệp sử dụng khối lượng lớn nguyên liệu đầu vào để sản xuất tập trung trong phạm vi các nhà máy, xí nghiệp.
Do đó, sản xuất công nghiệp tiêu tốn nhiều tài nguyên, đồng thời cũng thường thải ra nhiều chất thải công nghiệp, nếu không xử lý tốt sẽ dễ gây ô nhiễm môi trường. - Công nghiệp sử dụng nhiều máy móc, thiết bị nên vốn đầu tư ban đầu thường lớn hơn so với nông nghiệp và dịch vụ. Đặc trưng của sản xuất công nghiệp Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của hai mặt: Mặt kĩ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất. Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội nền kinh tế chia thành nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng.
Song, xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất, 11 n có thể coi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp còn các ngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành. Từ ý nghĩa đó, cần xem xét các đặc trưng của sản xuất công nghiệp khác với sản xuất nông nghiệp trên cả hai mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế xã hội của sản xuất. * Các đặc trưng về mặt kỹ thuật sản xuất của công nghiệp được thể hiện ở các khía cạnh chủ yếu sau. Đặc trưng về công nghệ sản xuất, trong công nghiệp chủ yếu là quá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ lý hoá của con người, làm thay đổi các đối tượng lao động thành những sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người.
Trong khi đó sản xuất nông nghiệp lại bằng phương pháp sinh học là chủ yếu do đó nghiên cứu đặc trưng về công nghệ sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ thích ứng với mỗi ngành, trong công nghiệp hiện nay, phương pháp sinh học cũng được ứng dụng rộng rãi đặc biệt là công nghiệp thực phẩm. Đặc trưng và sự biến đổi của các đối tượng lao động sau mỗi chu kì sản xuất của quá trình sản xuất công nghiệp sau: Các đối tượng lao động của quá trình sản xuất công nghiệp sau mỗi chu kì sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể này chuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể hoàn toàn khác, nghiên cứu đặc trưng này của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thực tiễn rất thiết thực trong việc khai thác và sử dụng nguyên liệu. Vậy sản xuất công nghiệp là hoạt động sản xuất duy nhất tạo ra những sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong các ngành kinh tế. Đặc trưng này cho thấy vị trí chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất đó.
* Đặc trưng kinh tế xã hội của sản xuất Trong quá trình phát triển, công nghiệp luôn luôn là ngành có điều kiện phát triển về kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển nhanh ở trình độ cao, nhờ 12 n đó mà quan hệ sản xuất có tính tiên tiến hơn. Nghiên cứu các đặc trưng về mặt kinh tế, xã hội của sản xuất công nghiệp có ý nghĩa thiết thực trong tổ chức sản xuất, trong việc phát huy vai trò chủ đạo của công nghiệp đối với các ngành kinh tế quốc dân của mỗi quốc gia. Vai trò của công nghiệp. Trừ một số quốc gia đặc biệt có lợi thế đặc trưng của các ngành nghề khác, còn lại đại đa số các quốc gia, công nghiệp là ngành sản xuất vật chất có vị trí quan trọng, là nền tảng của sự phát triển kinh tế quốc dân.
Trình độ phát triển của công nghiệp là một trong những tiêu chuẩn đánh giá trình độ phát triển kinh tế của quốc gia. Trong quá trình phát triển nền kinh tế lên sản xuất lớn, công nghiệp phát triển từ vị trí thứ yếu trở thành ngành có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế đi đôi với quá trình giảm tỷ trọng nông nghiệp. Mặc dù một số quốc gia đã chuyển từ trọng tâm công nghiệp sang dịch vụ, tỷ trọng công nghiệp đóng góp vào GDP đang có xu hướng giảm, đây vẫn là ngành quan trọng và là nền tảng cho sự phát triển các ngành khác trong xã hội, bao gồm cả nông nghiệp và dịch vụ. Vai trò của công nghiệp thể hiện ở các mặt sau: - Công nghiệp sản xuất ra khối lượng của cải vật chất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của con người.
Năng suất lao động công nghiệp cao hơn, máy móc, ngành nghề sản xuất công nghiệp đa dạng nên tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. - Công nghiệp cung cấp tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác. Cả nông nghiệp hay dịch vụ đều cần có máy móc thiết bị, các máy móc này đều do công nghiệp làm ra. Việc chế biến các sản phẩm nông nghiệp, các sản phẩm đầu vào của ngành nông nghiệp cũng xuất phát từ Công nghiệp.
- Thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác nhờ khai thác có hiệu quả hơn các nguồn lực đầu vào, nâng cao năng suất lao động, giá trị sản 13 n phẩm, dịch vụ. Sử dụng các sản phẩm từ công nghiệp sẽ nâng cao năng xuất của các ngành khác và làm nâng cao hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Do những đặc điểm tiên tiến, phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp như đã nêu ở phần trên nên có điều kiện tăng nhanh tốc độ phát triển, ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại vào sản xuất, nhờ đó lực lượng sản xuất trong công nghiệp phát triển nhanh hơn các ngành kinh tế khác, là đòn bẩy thúc đẩy để phát huy có hiệu quả cho sự tăng trưởng của các ngành kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân. Với vai trò dẫn dắt các khu vực khác và có ý nghĩa quyết định đến sự tăng trưởng cao của nền kinh tế, ngành công nghiệp thường được chú ý phát triển rất mạnh trong thời kỳ CNH.
- Nhìn ở khía cạnh khác, công nghiệp còn đảm bảo tăng cường tiềm lực quốc phòng. Quốc phòng chỉ được bảo đảm vững chắc khi có nền công nghiệp phát triển có thể đáp ứng được yêu cầu trang bị những phương tiện, khí tài nhất định và ngày càng hiện đại cho quân đội. * Vai trò của công nghiệp đối với địa phương Mỗi địa phương giống như một quốc gia thu nhỏ. Vì thế, công nghiệp cũng có vai trò quan trọng đối với kinh tế địa phương giống như đối với mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, mỗi địa phương có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, vị trí của địa phương đó trong quan hệ với các địa phương khác trong vùng và với cả nước khác nhau nên vai trò của công nghiệp với từng địa phương có khác nhau. Với Hiệp Đức là một huyện nghèo, có lợi thế rừng trồng, các cây nguyên liệu cho sẩn xuất công nghiệp nên việc phát triển công nghiệp chế biến các sản phẩm nông nghiệp là con đường nhanh nhất để nâng cao giá trị sản xuất, tạo việc làm, cải thiện thu nhập của người dân. Phát triển công nghiệp giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương từ nông nghiệp thuần tuý sang công nghiệp và dịch vụ. Khi công nghiệp phát triển sẽ kéo theo hàng loạt các loại hình dịch vụ như vận tải, ăn uống, nhà ở, bất động sản sẽ tăng.