CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.1 Các lý thuyết về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, có rất nhiều lý thuyết khác nhau giải thích về sự xuất hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, xét một cách tổng quát có thể chia ra làm các nhóm lý thuyết chủ yếu: 1.1 Các lý thuyết kinh tế vĩ mô Giải thích nguyên nhân xuất hiện FDI là do sự khác biệt về hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cũng như tỷ suất lợi nhuận giữa các quốc gia và phân công lao động quốc tế. Đó là sự khác biệt về lợi thế so sánh của các yếu tố như: vốn, lao động, công nghệ. Thừa kế mô hình lý thuyết HO ( Heckscher và Ohlin (1933), Richard.Eckaus (1987)) cho rằng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trên phạm vi toàn cầu là xuất phát từ việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư, từ đó xuất hiện quá trình đầu tư quốc tế.
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ở các nước đi đầu tư thường thấp do thừa vốn, nên vốn đầu tư có xu hướng chuyển sang các nước đang thiếu vốn, hiệu quả sử dụng vốn cao hơn. Sự chênh lệch về tính hiệu quả của vốn giữa các nước này làm xuất hiện sự di chuyển dòng vốn đầu tư giữa các quốc gia với nhau nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Cùng với lý thuyết trên, mô hình lý thuyết Macdougall – Kemp cũng đã khẳng định nguyên nhân hình thành đầu tư nước ngoài là do có sự chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Thông thường, năng suất cận biên của vốn ở những nước phát triển (nơi dư thừa vốn đầu tư) có năng suất cận biên của vốn thấp hơn năng suất cận biên của vốn ở những nước đang phát triển (nơi thiếu vốn đầu tư).
Do đó, xuất hiện dòng vốn di chuyển 123doc 7 từ nơi có năng suất cận biên thấp đến nơi có năng suất cận biên cao. Theo mô hình này những nước dư thừa vốn đầu tư có năng suất cận biên của vốn thấp hơn ở những nước thiếu vốn đầu tư, vì vậy sẽ xuất hiện dòng lưu chuyển vốn ở những nước này (Trần Hồng Minh, 2008).2 Các lý thuyết kinh tế vi mô Nhóm lý thuyết này hầu hết đều tìm cách giải thích câu hỏi: Tại sao các công ty lại đầu tư ra nước ngoài? Nguyên nhân hình thành các công ty xuyên quốc gia và tác động của chúng đối với những nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển. Lý thuyết chiết trung hay mô hình OLI Theo Dunning một công ty dự định tham gia vào các hoạt động FDI cần có 3 lợi thế: (1) Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages - viết tắt là lợi thế O - bao gồm lợi thế về tài sản, lợi thế về tối thiểu hoá chi phí giao dịch); (2) Lợi thế về khu vực (Locational advantages - viết tắt là lợi thế L - bao gồm: tài nguyên của đất nước, qui mô và sự tăng trưởng của thị trường, sự phát triển của cơ sở hạ tầng, chính sách của Chính phủ) và (3) Lợi thế về nội hoá (Internalisation advantages - viết tắt là lợi thế I - bao gồm: giảm chi phí ký kết, kiểm soát và thực hiện hợp đồng; tránh được sự thiếu thông tin dẫn đến chi phí cao cho các công ty; tránh được chi phí thực hiện các bản quyền phát minh, sáng chế). Theo lý thuyết chiết trung thì cả 3 điều kiện kể trên đều phải được thoả mãn trước khi có FDI.
Lý thuyết cho rằng: những nhân tố “đẩy” bắt nguồn từ lợi thế O và I, còn lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI. Những lợi thế này không cố định mà biến đổi theo thời gian, không gian và sự phát triển nên luồng vào FDI ở từng nước, từng khu vực, từng thời kỳ khác nhau. Sự khác nhau này còn bắt nguồn từ việc các nước này 123doc 8 đang ở bước nào của quá trình phát triển và được Dunning phát hiện vào năm 1979. Lý thuyết về quy mô thị trường Theo lý thuyết này, một nước có thể tiếp nhận lượng vốn FDI nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô thị trường trong nước.
Quy mô này được đo lường bằng lượng hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài và chủ yếu là từ các nước TNCs. Lý thuyết này hoàn toàn đúng trong trường hợp FDI thay thế hàng nhập khẩu vì mối tương quan giữa sản lượng gia tăng trong một nước với FDI được rút ra từ lý thuyết tân cổ điển về đầu tư trong nước. Balas (1996) cho rằng, quy mô thị trường đủ lớn cho phép chuyên môn hóa một số sản phẩm, từ đó có thể giảm chi phí và vốn đầu tư để đảm bảo lợi nhuận cận biên. Do vậy, khi một nước đã phát triển đến trình độ cho phép khai thác lợi thế về quy mô thị trường để chuyên môn hóa sản xuất và tối thiểu hóa chi phí sẽ trở thành nước có tiềm năng thu hút đầu tư.
Tuy nhiên lý thuyết này không giải thích được trường hợp FDI hướng vào xuất khẩu mà một số quốc gia nhỏ như Singapore, hay đặc khu Hồng Kông đã thu hút được, vì quy mô thị trường ở những nơi này chưa đủ. Các TNCs thực hiện các dự án FDI ở những nước khác có thể xuất phát từ nhiều nhân tố khác.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài Yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các điều kiện và chính sách của nước tiếp nhận đầu tư chi phối đến hoạt động đầu tư nước ngoài, định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp FDI đầu tư, kinh doanh có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất. 123doc 9 Việc đưa ra quyết định đầu tư của các doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, song có thể nói căn cứ để các doanh nghiệp so sánh lựa chọn đầu tư giữa các quốc gia hay giữa các vùng, lãnh thổ trong cùng một quốc gia không phải dựa trên các yếu tố về kinh tế vĩ mô, thương mại dịch vụ, … mà chính việc cung ứng các nhu cầu cơ bản (nền tảng cho một môi trường đầu tư lành mạnh) đó là yếu tố về quy mô thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, chi phí, cơ sở hạ tầng, sự hình thành cụm ngành, công tác quản lý - hỗ trợ của chính quyền địa phương, yếu tố về ưu đãi đầu tư và yếu tố về vị trí địa lý - tài nguyên thiên nhiên.1 Nhân tố về quy mô thị trường Quy mô thị trường là cơ sở quan trọng trong việc thu hút đầu tư tại tất cả các quốc gia và các nền kinh tế. Nhằm duy trì và mở rộng thị phần, các công ty đa quốc gia thường thiết lập nhà máy sản xuất ở các nước dựa trên chiến lược thay thế hàng nhập khẩu của các nước này.
Bên cạnh đó, mức tăng trưởng GDP cũng là một tín hiệu tốt cho việc thu hút FDI. Khi lựa chọn địa điểm để đầu tư trong một nước, các NĐT nước ngoài cũng nhắm đến những vùng tập trung đông dân cư - thị trường tiềm năng của họ (Nguyễn Mạnh Toàn, 2010). Những nghiên cứu thực nghiệm thực tế: Scheider và Frey (1985), Torrisi (1985), Pio và Vannini (1992) đã tìm thấy dấu (+) của biến số tốc độ tăng trưởng GDP khi kiểm chứng mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng hàng năm dòng vốn đầu tư trực tiếp.2 Nhân tố về chất lượng nguồn nhân lực Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các MNEs cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thải ở các nước này. Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn 123doc 10 được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty.
Động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm đầu tư (Nguyễn Mạnh Toàn, 2010). Trong nghiên cứu của Nguyen Ngoc Anh và Nguyen Thang (2007), Le Quoc Thinh (2011), đã kết luận rằng nguồn lao động là yếu tố tác động đến sự hài lòng của doanh nghiệp FDI về môi trường đầu tư. Trong nghiên cứu của Kang, Sung Jin và Lee, Hong Shik (2007) cũng đã đi đến kết luận rằng chất lượng của nguồn lao động địa phương có tác động tích cực đến lựa chọn địa điểm đầu tư của các nhà đầu tư Hàn Quốc tại địa phương của Trung Quốc. Nguồn lao động và giá cả nhân công tại nước mà nhà đầu tư dự kiến đầu tư ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư.
Bởi lẽ với lực lượng lao động dồi dào và giá nhân công rẻ hơn so với khi sử dụng lao động ở các quốc gia khác đến. Tuy nhiên hiện nay yếu tố lao động giá rẻ ở các nước đang và kém phát triển không còn là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà tư bản nữa, vì cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại đã cho phép đẩy nhanh quá trình tự động hóa và nâng cao năng suất lao động. Trong điều kiện đó, nước nào có được đội ngũ lao động được đào tạo với trình độ khoa học và chuyên môn cao được xem là một lợi thế. Vì thông qua sử dụng lao động, các nhà đầu tư không chỉ muốn thu lại lợi nhuận thông thường mà còn muốn thu thêm được lợi nhuận siêu ngạch.
Bên cạnh đó, môi trường lao động ổn định còn thể hiện qua tính cần cù và tinh thần kỷ luật của người lao động, và quan trọng hơn nữa là tình hình đình công, bãi công của người lao động, của các tổ chức công đoàn … đây là những vấn đề khá nhạy cảm mà không một nhà đầu tư nào muốn gặp rắc rối với nước sở tại.3 Nhân tố về chi phí Phần đông các MNEs đầu tư vào các nước là để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí. Trong đó, chi phí về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi ra quyết định đầu tư. Đối với các nước đang phát triển, lợi thế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài cho phép các công ty tránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và do vậy có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát được trực tiếp các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu với giá rẻ, nhận được các ưu đãi về đầu tư và thuế, cũng như các chi phí sử dụng đất (Nguyễn Mạnh Toàn, 2010).