Chương 1: Lý luận chung về chính sách phân phối thu nhập cá nhân. Chương 2: Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua. Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập ở Việt Nam. z CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN 1.
Một số vấn đề lý luận chung về phân phối thu nhập cá nhân Từ trƣớc đến nay, vấn đề phân phối, đặc biệt là phân phối thu nhập cá nhân (TNCN) luôn giữ vai trò quan trọng không chỉ trong lý luận và thực tiễn kinh tế mà còn cả trong các vấn đề chính trị, xã hội. Tầm quan trọng của vấn đề phân phối thu nhập cá nhân không chỉ ở chỗ nó nói lên quan hệ về lợi ích kinh tế mà còn phản ánh những nhân tố quyết định ẩn dấu đằng sau các quan hệ lợi ích đó, từ đó giúp chúng ta giải quyết đƣợc các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội. Khái niệm phân phối thu nhập cá nhân Để hiểu đƣợc thế nào là phân phối TNCN, trƣớc hết chúng ta cần hiểu khái niệm thu nhập và phân phối thu nhập. Thu nhập là số lƣợng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, tổ chức hay một nền kinh tế nhận đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm).
Phân phối thu nhập là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội mới sỏng tạo ra cho cỏc thành viờn xó hội, cỏc tổ chức, các tập thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của xó hội. Theo đó, phân phối thu nhập cá nhân là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội sỏng tạo ra cho cỏc cỏ nhõn trong xó hội. Phân phối thu nhập cá nhân gồm 2 quá trình: phân phối lần đầu và phân phối lại (hay tái phân phối). Phân phối lần đầu gắn trực tiếp với quỏ trỡnh tỏi sản xuất, gồm các khoản thu nhập mà cá nhân đƣợc nhận trực tiếp do bán sức lao động (tiền lƣơng và các khoản thu nhập có tính chất lƣơng), do sở hữu tài sản (lợi tức tiền gửi, cổ tức, nhận thừa kế,…).
Tái phân phối đƣợc tiến hành sau phân phối lần đầu nhằm điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân có thu nhập cao z và các cá nhân có thu nhập thấp. Nó gồm các chính sách và biện pháp kinh tế - xã hội của chính phủ nhƣ chi tiêu ngân sách nhà nƣớc, tín dụng, tiền lƣơng, bảo hiểm xã hội, thuế thu nhập cá nhân, các khoản trợ cấp của chính phủ… 1. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối thu nhập cá nhân 1. Vị trí của phân phối thu nhập cá nhân trong tái sản xuất xã hội C.Ăngghen lúc đƣơng thời đã nghiên cứu một cách có hệ thống và vạch rõ bản chất của phƣơng thức sản xuất TBCN.
Các ông cho rằng chế độ phân phối TBCN là bất công vì nó dựa trên cơ sở quan hệ bóc lột của giai cấp tƣ sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vạch trần bản chất và phê phán phƣơng thức phân phối TBCN, C.Ăngghen cũng đồng thời nêu lên quan điểm và nguyên tắc cơ bản về phân phối trong xã hội tƣơng lai, đặt nền tảng cho lý luận phân phối nói chung, phân phối TNCN nói riêng trong CNXH. Kế thừa và tiếp tục phát triển tƣ tƣởng của C.Lênin đã tiếp tục làm rõ hơn và cụ thể hoá các quan điểm và nguyên tắc phân phối TNCN trong CNXH. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng.
Phân phối là một trong bốn khâu đó, là một mắt xích trung gian trong quá trình tái sản xuất. Phân phối bao gồm phân phối cho sản xuất và phân phối cho tiêu dùng cá nhân (hay phân phối tƣ liệu tiêu dùng). Ở đây chúng ta chỉ xem xét phân phối cho tiêu dùng cá nhân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, “Phân phối cho tiêu dùng là sự phân chia sản phẩm cho các cá nhân tiêu dùng theo tỷ lệ đóng góp của họ vào việc tạo ra sản phẩm” [18, tr.
Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định. Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất quy định quy mô và cơ cấu của phân phối, trong đó có phân phối TNCN. Nếu phân phối phù hợp với sự phát triển của sản xuất, động viên tính tích cực của ngƣời lao động thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn nếu không phù hợp thì nó sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất. Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau.
Trao đổi là sự tiếp tục của phân phối. Trong kinh tế thị trƣờng, phân phối TNCN đƣợc thực hiện dƣới z hình thức giá trị (tiền tệ). Ngƣời nhận đƣợc thu nhập tiền tệ đó sẽ biến thành thu nhập thực tế của cá nhân mình bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trƣờng. Phân phối TNCN cũng quan hệ mật thiết với tiêu dùng.
Việc tăng hoặc giảm lƣợng sản phẩm, lƣợng giá trị (tiền tệ) phân phối cho cá nhân đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng. Ngƣợc lại, cơ cấu, phƣơng thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trƣởng của phân phối. Lý luận phân phối theo lao động của C.Lênin Khi nghiên cứu nguyên tắc phân phối trong CNTB, C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị mới sáng tạo ra đƣợc phân chia cho các giai cấp dựa vào sự đóng góp các yếu tố sản xuất: một bộ phận đƣợc phân phối cho ngƣời sở hữu sức lao động theo giá trị sức lao động, bộ phận còn lại phân phối cho ngƣời sở hữu tƣ liệu sản xuất. Do đó giá trị mới đƣợc phân thành: tiền công, lợi nhuận, lợi tức và địa tô.
Trong đó, tiền công là thu nhập của ngƣời lao động và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu sức lao động; lợi nhuận, lợi tức là thu nhập của nhà tƣ bản và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu tƣ liệu sản xuất; địa tô là thu nhập của địa chủ và là hình thức thực hiện giá trị của quyền chiếm hữu ruộng đất. Đó là nguyên tắc phân phối dựa trên quan hệ sở hữu các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất. Là những ngƣời sáng lập CNXH khoa học, C.Ăngghen đã sáng tạo ra nguyên tắc phân phối theo lao động trên cơ sở phát triển những mầm mống tƣ tƣởng về phân phối theo lao động của CNXH không tƣởng. Tác phẩm "Phê phán cƣơng lĩnh Gôta" của C.Mác đã đánh dấu sự hình thành lý luận phân phối theo lao động.
Trong tác phẩm này, C.Mác nêu lên quan niệm về xã hội tƣơng lai, trong đó nguyên tắc phân phối TNCN sẽ là phân phối theo lao động. Trong bộ "Tƣ bản", C.Mác đã khẳng định phƣơng thức phân phối mới: lấy lao động làm thƣớc đo để phân phối.Mác chỉ rõ "phần tƣ liệu sinh hoạt chia cho mỗi ngƣời sản xuất do thời gian lao động của ngƣời đó quyết định" [6, tr. Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau: một là, đây là nguyên tắc phân phối trong giai đoạn đầu của xã hội cộng z sản, "một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tƣ bản chủ nghĩa", trong đó, ngƣời ta vẫn còn có lợi ích riêng, chƣa coi lao động là nhu cầu bậc nhất của con ngƣời; hai là, phân phối theo lao động đƣợc thực hiện trong điều kiện kinh tế dựa trên chế độ công hữu. Dựa trên những tiền đề đó, C.Mác đã vạch ra nguyên tắc và phƣơng thức phân phối theo lao động.
Chủ thể phân phối là ngƣời lao động, đối tƣợng phân phối là tƣ liệu tiêu dùng, căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phƣơng thức thực hiện phân phối là phiếu lao động. Nhƣ vậy, thời gian lao động là thƣớc đo khách quan của phân phối, khi thực hiện trao đổi lao động ngang nhau, sự khác biệt về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại.Mác đã xác lập cơ sở của mối liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, theo đó lao động trở thành điều kiện tất yếu để đƣợc nhận thu nhập. Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác thừa nhận tồn tại sự khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân. Sự khác biệt này chính là sự công bằng trong phân phối, không phải là chủ nghĩa bình quân.Lênin tiếp tục hoàn thiện lý luận về phân phối trong chủ nghĩa Mác – Lênin.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Lênin viết: trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà ngƣời ta vẫn thƣờng gọi là chủ nghĩa xã hội), "pháp quyền tƣ sản" chƣa bị xoá bỏ hoàn toàn mà chỉ bị xoá bỏ một phần, trong phạm vi tƣ liệu sản xuất. Trong bộ phận khác của nó, pháp quyền ấy vẫn còn tồn tại với tƣ cách là yếu tố điều tiết việc phân phối sản phẩm và phân phối lao động giữa các thành viên trong xã hội. "Ngƣời nào không làm thì không có ăn", "số lƣợng lao động ngang nhau, thì hƣởng số lƣợng sản phẩm ngang nhau", nguyên tắc xã hội chủ nghĩa này cũng đã đƣợc thực hiện, nhƣng đó vẫn chƣa phải là chủ nghĩa cộng sản, vì vẫn chƣa gạt bỏ đƣợc việc cung cấp một số lƣợng sản phẩm ngang nhau cho những ngƣời không ngang nhau và cho một số lƣợng lao động không ngang nhau. Trong giai đoạn đầu, chủ nghĩa cộng sản chƣa thể hoàn toàn trƣởng thành về mặt kinh tế, chƣa thể hoàn toàn thoát khỏi những tàn tích của chủ nghĩa tƣ bản.
Về mặt phân phối vật phẩm tiêu dùng thì pháp quyền tƣ sản tất nhiên đòi hỏi phải có một nhà nƣớc kiểu tƣ sản, vì vậy trong một thời gian z nhất định, dƣới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tƣ sản, mà vẫn còn cả nhà nƣớc kiểu tƣ sản nhƣng không có giai cấp tƣ sản. Nhƣ vậy, có thể thấy, theo V.Lênin, trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, chƣa thể thực hiện đƣợc công bằng và bình đẳng: về mặt của cải, vẫn còn chênh lệch, nhƣng tình trạng ngƣời bóc lột ngƣời thì không thể có nữa, vì không ai có thể chiếm tƣ liệu sản xuất, công xƣởng, máy móc, đất đai, v. làm của riêng đƣợc.