phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc Chƣơng 2: Tự do hoá thương mại trong tiến trình gia nhập WTO của Trung Quốc: Những thay đổi chính sách Chƣơng 3: Những bài học kinh nghiệm và một số đề xuất đối với việc thực hiện chính sách tự do hoá thương mại của Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO z 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH TỰ DO HOÁ THƢƠNG MẠI CỦA TRUNG QUỐC Xu thế tự do hoá thương mại đã được xúc tiến ngay từ những năm đầu sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đặc biệt trong khuôn khổ của GATT. Tuy nhiên, chỉ có những nước phát triển mới tham gia tích cực vào xu thế này, còn phần lớn các nước đang phát triển lại thực hiện chính sách bảo hộ thương mại nghiêm ngặt. Từ giữa những năm 1980, trước những hạn chế rõ ràng của chính sách bảo hộ, hầu hết các nước đang phát triển đã chuyển sang chính sách tự do hoá thương mại, thực hiện giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan… Xu thế tự do hoá thương mại đặc biệt được thúc đẩy mạnh mẽ hơn khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời vào năm 1995. Tự do hoá thương mại đã trở thành trào lưu lịch sử không thể đảo ngược.
Đứng trước trào lưu lịch sử đó, lựa chọn sáng suốt nhất của Trung Quốc chỉ có thể là lấy chính sách thương mại tự do thay thế chính sách thương mại bảo hộ. Vậy chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc bắt nguồn từ những cơ sở nào. Cơ sở lý luận của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc chủ yếu dựa trên những quan điểm của các trường phái lý thuyết thương mại quốc tế bàn về lợi ích từ thương mại tự do; từ mục đích và nội dung của chính sách thương mại và vấn đề bảo hộ; và từ chính khái niệm, trình tự, nội dung và các cấp độ của quá trình tự do hoá thương mại. Cơ sở thực tiễn của chính sách tự do hoá thương mại của Trung Quốc xuất phát từ vai trò của thương mại đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia trong hoạt động kinh tế quốc tế; từ xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá; từ những thay đổi trong ưu thế cạnh tranh dưới tác động của khoa học và công nghệ; từ sự ra đời của WTO và những quy định cơ bản trong chính sách thương mại của WTO; từ sự thất bại của cơ chế kế hoạch hoá tập trung ở một số nước và sự thành công của các mô hình hướng ngoại của các nước Đông Á; và từ những đổi mới về nhận thức, sự chuyển hướng chiến lược theo hướng mở cửa, tự do hoá thương mại của Trung Quốc.
Cơ sở lý luận của chính sách tự do hoá thƣơng mại ở Trung Quốc 1. Lý thuyết thương mại quốc tế bàn về lợi ích từ thương mại tự do Ngay từ giữa thế kỷ XVI, trường phái Trọng thương đã chú ý tới vai trò quan trọng của ngoại thương trong việc làm tăng của cải quốc gia. Đến thế kỷ XVIII, đại biểu xuất sắc của kinh tế chính trị học cổ điển Anh - Adam Smith đã đưa ra khái niệm lợi thế tuyệt đối để giải thích vai trò của ngoại thương đối với sự phát triển của các quốc gia. Ông cho rằng các nước trên thế giới buôn bán với nhau vì họ khác nhau và vì họ cùng có lợi.
Các nước khác nhau về điều kiện tự nhiên và địa lý. Sự khác nhau này tạo nên lợi thế tuyệt đối của các quốc gia và là điều kiện để các nước tiến hành chuyên môn hoá vào việc sản xuất một số mặt hàng nhất định. Nước có khoáng sản thì tập trung phát triển công nghiệp, còn nước có đất đai phì nhiêu thì nên sản xuất nông sản. Khi đó, nhờ chuyên môn hoá sản xuất, sản lượng của cả hai loại hàng hoá tăng lên và thông qua trao đổi quốc tế cả hai bên đều có lợi.
Ngoài những sự khác biệt về khả năng thiên nhiên và địa lý, các nước còn phân biệt với nhau bởi năng suất lao động, nhu cầu thị trường, khả năng cung ứng và sử dụng các nguồn lực. Để thể hiện đầy đủ sự khác biệt giữa các nước theo những tiêu chí như vậy, các nhà kinh tế đã đưa ra quan điểm về lợi thế so sánh hay lợi thế tương đối. Quan điểm này được thể hiện thông qua nhiều mô hình khác nhau, trong số đó phải kể đến mô hình của David Ricardo, mô hình các yếu tố chuyên biệt của Paul Samuelson và Ronald Jones, mô hình Heckscher - Ohlin và mô hình thƣơng mại chuẩn. Những mô hình trên được coi là những mô hình cơ bản để giải thích về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại.
Ra đời đầu thế kỷ XIX, mô hình D. Ricardo được coi là mô hình đơn giản nhất lý giải về nguồn gốc những lợi ích từ thương mại. Mô hình này giả định rằng chỉ có một yếu tố duy nhất tham gia vào quá trình sản xuất - đó là lao động và nó được di chuyển tự do từ ngành này sang ngành khác, các nước khác nhau chỉ vì năng suất lao động trong các ngành công nghiệp khác nhau và mức lợi tức không đổi theo quy mô. Nếu không có thuế quan và chi phí vận chuyển không đáng kể, các nước thường xuất khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối có hiệu quả và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản xuất tương đối kém hiệu quả.
Điều đó hàm ý rằng z 9 các nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất hay xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với chi phí tương đối, hay chi phí cơ hội thấp hơn các nước khác. Việc chuyên môn hoá sản xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh giúp cho các nước có điều kiện trao đổi hàng hoá với nhau và làm cho họ cùng có lợi. Những lợi ích từ thương mại được thể hiện thông qua việc mở rộng khả năng tiêu dùng của các bên trao đổi và nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc phân phối lợi ích từ thương mại giữa các bên tham gia là công bằng, vì nó dựa trên sự khác biệt về năng suất lao động giữa chúng với nhau.
Thông qua mô hình của D. Ricardo, chúng ta hiểu được tại sao thương mại lại xảy ra và nó có tác động như thế nào đối với phúc lợi quốc gia. Song, nếu so sánh với thực tiễn thương mại quốc tế, mô hình này còn có nhiều hạn chế và đôi khi còn đưa ra những phán đoán sai lệch. Trước hết, việc chuyên môn hoá sản xuất hoàn toàn mà mô hình đòi hỏi là không thể có được trong thực tiễn.
Thứ hai, do giả định rằng lao động có thể di chuyển tự do và không tốn kém giữa các ngành, mô hình Ricardo đã đưa ra phán đoán không sát với thực tế rằng thương mại không tác động lên sự phân phối thu nhập trong nội bộ các nước. Và thứ ba, mô hình Ricardo đã bỏ qua vai trò của lợi thế nhờ quy mô - một nguồn gốc của trao đổi quốc tế. Để góp phần khắc phục những hạn chế trong mô hình Ricardo, Paul Samuelson và Ronald Jones đã lý giải nguồn gốc của thương mại và các lợi ích tiềm tàng của nó thông qua mô hình các yếu tố chuyên biệt. Mô hình này giả định rằng có nhiều yếu tố khác ngoài lao động tham gia vào quá trình sản xuất, trong đó lao động là yếu tố linh hoạt, có nghĩa là nó có thể tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau, còn các yếu tố khác là chuyên biệt, tức chúng chỉ có thể tham gia vào một ngành sản xuất nhất định nào đó.
Với bất kỳ mức giá nào của sản phẩm (tức không phải do người sản xuất quyết định), mô hình các yếu tố chuyên biệt cho thấy sự có mặt của các yếu tố chuyên biệt trong quá trình sản xuất đã tạo điều kiện cho các nước có thể thay đổi mức cung hàng hoá ra thị trường, khi họ thay đổi lượng yếu tố chuyên biệt được sử dụng. Do có sự khác nhau trong cung ứng các yếu tố giữa các nước, nên mỗi nước sẽ chuyên môn hoá vào việc sản xuất mặt hàng nào cần yếu tố chuyên biệt mà nó sẵn có (nước có nhiều vốn sẽ tập trung z 10 sản xuất hàng công nghiệp, còn nước có nhiều đất đai thì sản xuất hàng thực phẩm). Khi đó, thông qua thương mại, các nước có thể trao đổi với nhau những hàng hoá mà họ có điều kiện sản xuất tốt hơn. Với việc đưa ra khái niệm giá cả tương đối, mô hình này đi đến kết luận rằng thương mại có những tác động khác nhau đến các nhóm dân cư nhưng xét trên phạm vi một nước thì thương mại đem lại lợi ích tiềm tàng, được thể hiện bằng việc mở rộng khả năng lựa chọn của nền kinh tế.
Trong lý thuyết về thương mại quốc tế, bên cạnh mô hình về các yếu tố chuyên biệt, còn có một mô hình khác giải thích nguồn gốc của thương mại thông qua sự khác biệt về nguồn lực. Đó là mô hình Heckscher - Ohlin, hay còn gọi là mô hình tỷ lệ các yếu tố, do hai nhà kinh tế học Thuỵ Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin đưa ra vào những năm 30 của thế kỷ XX. Xây dựng trên cơ sở một số các giả thiết, mô hình tỷ lệ các yếu tố đã đưa ra kết luận rằng các nước có thiên hướng xuất khẩu hàng hoá cần nhiều yếu tố sản xuất mà nước họ có dồi dào. Mô hình này cũng khẳng định do có sự khác nhau về nguồn lực, giá tương đối của hàng hoá trao đổi của hai nước có xu hướng hội tụ - mức giá của nước xuất khẩu có xu hướng tăng lên và ở nước nhập khẩu có xu hướng giảm đi.
Vì vậy, giống như mô hình các yếu tố chuyên biệt, thương mại có tác động khác nhau đến các nhóm dân cư trong một nước - những người sở hữu các yếu tố dồi dào sẽ được lợi từ thương mại, trong khi những người sở hữu các yếu tố khan hiếm bị thiệt hại bởi thương mại, mặc dù tất cả mọi thành viên trong xã hội đều khá lên nhờ thương mại do khả năng tiêu dùng của họ được mở rộng.