Chương 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU Trong khoa hoc xã hội, vốn xã hội, sinh kế và nhập cư là những chu đề được nhiều học giả quan tâm chú ý và bàn luận thông qua rất nhiều nghiên cứu khác nhau. Với khuôn khổ đề tài luận án đề cập đến mối quan hệ giữa vốn xã hội và sinh kế của người dân nhập cư, tác giả sẽ tập trung phân tích những bài viết, nghiên cứu của các nhà khoa học di trước về quá trình xây dựng vốn xã hội, mối quan hệ giữa vốn xã hội và kinh tế nói chung giữa vốn xã hội và sinh kế nói riêng cũng như mang lưới xã hội của người nhập cư hay phương pháp sinh kế bền vững, những tác động của nhập cư tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu về nhập cư 1. Tác động của nhập cư tới sự phát triển kinh tế - xã hội Sự nhập cư là một trong những đặc trưng của loài người.
Từ một nguồn gốc lúc đầu là ở Châu Phi, các nhóm người đã toả đi tất cả các vùng đất trên thế giới. Sự nhập cư thường kéo theo sự pho biến các tư tưởng văn hoá, tập quán kỹ thuật từ vùng này sang vùng khác. Khi xem xét vấn đề nhập cư, mối quan tâm của nhiều tác giả đó chính là tác động của nhập cư tới sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương xuất cư cũng như địa phương nhập cư và đóng góp của người nhập cư vào sự phát triển đô thị [Đặng Nguyên Anh, 1997; Nguyễn Hữu Dũng — Trần Võ Hùng Sơn — Vũ Đức Tuan, 1997; Trịnh Thái Quang, 2006; Nguyễn Thanh Liêm, 2006; Lê Văn Thành, 2007; Nguyễn Đặng Minh Thảo, 2007; Nguyễn Hữu Minh, 2008; N guyén Dinh Tuan, 2008; Luu Bich Ngoc, 2012; Dang Nguyén Anh va cong su, 2010; Veronique Marx & Katherine Fleischer, 2010; Dinh Quang Ha, 2010; Truong Văn Tuấn, 2012;. Ví dụ, nghiên cứu của tác giả N guyễn Hữu Minh (2008) “Đóng góp kinh tế - xã hội của người nhập cư" chỉ ra những đóng góp của người nhập cư vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương xuất cư và đô thị.
Đối với địa phương nơi xuất cư: góp phần phân bố lại nguồn nhân lực; cải thiện chất lượng cuộc sống của người di dân và gia đình họ. Đối với đô thị: việc chỉ tiêu của họ ở đô thi cho giáo dục, điện nước, mua hàng hóa.; nguồn lợi thu được từ hoạt động kinh tế của người nhập cư; đáp ứng nhu cầu dịch vụ việc làm tại thành phố; mang theo 13 nhiều kỹ năng nghề nghiệp giúp phát triển sản xuất; sự giao lưu giữa người nhập cư và người đô thị cũng đã góp phần bảo tồn và nâng cao giá trị văn hóa truyền thống tại các khu vực đô thị; đóng góp vật chất, công sức cho các chương trình xã hội, sự phát triển của phường nói chung. Cuối cùng, tác giả có những gợi mở cho việc hoạch định chính sách di cư nhằm quan tâm, bảo vệ người nhập cư [Nguyễn Hữu Minh, 2008]. Một nghiên cứu có cai nhìn da chiều về nhập cư ở Việt Nam là của hai tác giả Veronique Marx & Katherine Fleischer (Nhóm điều phối Chương trình về chính sách kinh tế và xã hội của Các Tổ chức Liên hiệp quốc tại Việt Nam) “Di cu trong nước: Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (2010).
Trước hết nghiên cứu chi ra người dân nhập cư chủ yếu là vì lý do kinh tế, những người nhập cư thường thấy mình yếu thế hơn so với người dân sở tại, đặc biệt là trong thị trường lao động. Người nhập cư trong nước hình thành một mạng lưới mạnh mẽ cho chính họ, hướng dẫn việc tiếp tục nhập cư bằng cách lôi kéo bạn bè và gia đình từ quê hương. Những mạng lưới này của người nhập cư tại nơi đến đặc biệt quan trọng đối với người nhập cư, do tình trạng chưa đăng ký hộ khẩu hoặc đăng ký hộ khẩu tạm trú, họ không kết nối được tới hệ thống hỗ trợ của Chính phủ và hỗ trợ chính thức khác và họ gặp khó khăn khi tiếp cận các tổ chức quần chúng [Veronique Marx & Katherine Fleischer, 2010]. Tiếp đến, phải kể đến nghiên cứu ban luận riêng về khía cạnh ảnh hưởng của di cư tới nơi xuất cư.
Ví dụ như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Tuấn (2008) “Anh hưởng của di cư đến những người thân nơi xuất cv”. Tác giả xem xét sự tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực của đi cư đối với nơi xuất cư, đặc biệt là đối với gia đình và người thân có người di cư. Về mặt tích cực, theo tac giả đi cư có những tác động như: Mang lại lợi ích kinh tế, vật chất cho người di cư và gia đình họ; Lợi ích về tri thức, nhận thức — tức là thời gian sống và làm việc ở thành phố giúp người di cư tiếp nhận được những tri thức, quan niệm, lối sống. của người đô thị, khi về quê họ có ảnh hưởng đến lối sống của gia đình và người dân địa phương.
Về mặt tiêu cực: Nguy cơ làm suy giảm quan hệ gia đình, đặc biệt là tình cảm vợ chồng: Nguy cơ về sức khỏe, bệnh tật; Nguy cơ suy giảm chức năng giáo dục; Nguy cơ suy 14 giảm chức năng chăm sóc người già và trẻ em [Nguyễn Đình Tuan, 2008]. Ngoài ra, đáng chú ý có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đặng Minh Thao (2007) “Tac động di dân nông thôn — đô thị trong quá trình phát triển nông thôn hiện nay. Tác giả đã làm rõ về đặc điểm của những người nhập cư và mức độ tác động đến kinh tế hộ gia đình từ việc nhập cư. Tác giả Nguyễn Đặng Minh Thảo đưa ra nhiều số liệu thực nghiệm dé minh chứng cho luận điểm của mình.
Về đóng góp của di dân vào kinh tế địa phương đầu tiên qua việc số tiền gửi về cho gia đình. Số tiền này được sử dụng vào việc tiêu dùng, đầu tư sản xuất, gửi tiền ngân hàng, cất giữ. Về khía cạnh xã hội thì số tiền này có ý nghĩa trong việc “xóa đói giảm nghèo” cho địa phương, cải thiện cuộc song cong đồng [Nguyễn Đặng Minh Thảo, 2007]. Các tác giả theo hướng nghiên cứu về tác động của nhập cư tới sự phát triển kinh tế - xã hội đưa ra khá nhiều bằng chứng thực nghiệm để chứng minh rằng: nhập cư không chỉ có tác động đối với địa phương xuất cư và mà còn có ảnh hưởng không nhỏ tới địa bàn nhập cư.
Tác động của nhập cư được xem xét ở cả hai mặt tích cực cũng như tiêu cực đối với nơi xuất cư và nơi nhập cư, đặc biệt là đối với gia đình và người thân có người nhập cư. Mạng lưới xã hội của người nhập cư Nhập cư là một hiện tượng xã hội có những tác động nhất định tới sự phát triển kinh tế xã hội. Mạng lưới xã hội có vai trò quan trọng trong việc giúp cho người nhập cư thích ứng, hội nhập vào môi trường mới [Đặng Nguyên Anh, 1998; Tống Văn Chung, 2011; Phạm Quỳnh Hương, 2006;. Tác giả Đặng Nguyên Anh dé cập đến vai trò của mạng lưới xã hội đôi với quá trình nhập cư, nguyên nhân, xu hướng nhập cư và sự hòa nhập của cư dân tại nơi chuyển đến qua nghiên cứu “Vai tro của mạng lưới xã hội trong qua trình di cứ” (1998).
Mạng lưới xã hội là tập hợp liên kết giữa các cá nhân hay giữa các nhóm dân cư nhất định. Mạng lưới xã hội hình thành từ quá trình di cư cũng như phục vụ cho mục đích nhập cư được gọi là mạng lưới di cư. Thông qua những quan hệ họ hàng, bẻ bạn, người thân, người nhập cư tiếp nhận được thông tin và sự trợ giúp cần thiết tại nơi mà họ sẽ chuyên đến. Bởi di cư vôn là quá trình mang nhiêu bât trắc, một mạng lưới xã hội tin cậy sẽ góp 15 phần làm giảm thấp các chỉ phí phải trả cho quá trình nhập cư, đồng thời làm tăng vận hội thành công của đối tượng di chuyền tại nơi đến.
Những quan hệ mà người di chuyén có được tai nơi nhập cư sé làm thuận lợi thêm quá trình hòa nhập của ho vào môi trường sống mới. Chi phí và trở ngại đối với di dân càng lớn thi mạng lưới di cư cảng có vai trò quan trọng. Mang lưới xã hội góp phan làm giảm bot chi phí nhập cư, tìm kiếm việc làm cũng như thúc đây sự hội nhập của người di chuyển trên địa bàn nhập cư [Đặng Nguyên Anh, 1998]. Trong khi đó tác giả Phạm Quỳnh Hương lại xem xét vấn đề nhập cư ở góc cạnh như là chiến lược sống, là sinh kế của các hộ gia đình thông qua nghiên cứu “Người nhập cư đô thị và an sinh xã hội” (2006).
Tác giả cho rằng di dân là quá trình mang nhiều khó khăn va bap bênh, vi vậy một mạng lưới xã hội, dong vai trò hỗ trợ không chính thức, là rất quan trọng. Mạng lưới xã hội của người nhập cư (đồng hương, bạn bè, người thân) đã tạo ra nguồn vốn xã hội, không chỉ là tiền bạc, của cải, mà còn là thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và những hỗ trợ cần thiết, kịp thời (cả về vật chất và tinh thần) [Phạm Quỳnh Hương, 2006]. Các tác giả đã làm rõ được vai trò của mạng lưới xã hội — một dạng điển hình của vốn xã hội đối với người dân nhập cư, song lại quan tâm đến quá trình di cư nói chung chứ chưa chú trọng vào sinh kế của người nhập cư, hơn nữa chưa quan tâm tới các yếu tổ khác của vốn xã hội cũng như những rào can của nó đối với người dân nhập cư. Khi người dân nhập cư họ cần có một quá trình thích ứng, hội nhập với nơi ở mới.
Quá trình này họ gặp không ít khó khăn va rào can. Người nhập cu có sự tác động tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, song tình hình cung cấp và đáp ứng các dịch vụ xã hội cho người lao động tự phát nhập cư ra thành phố lại chưa được quan tâm thích đáng [Elliott Robert Barkan, 1992; Rina Benmayor, Andor Skotnes, 2005; Siew-Ean Khoo, Per C. Pozzetta, 1991; Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Bình Minh, 1998; Tran Trọng Đức, 2001; Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng, 2008; Đặng Nguyên Anh, 2008:. Điển hình là nghiên cứu của hai tác giả Lê Bach Dương — Khuất Thu Hồng (2008) 16 cũng quan tâm tới chủ đề này với nghiên cứu “Di dan và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường”.