Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số 62 31 01 01) của nghiên cứu sinh Hà Thị Hương Lan, thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS, TS. Hoàng Thị Bích Loan, tập trung nghiên cứu đề tài: "Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Xuất phát từ quá trình toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế, các công đoạn sản xuất công nghiệp ngày càng được chuyên môn hóa sâu sắc và phân chia tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ (CNHT) nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu linh phụ kiện, giảm chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp và chính sách khuyến khích CNHT ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu vẫn chưa đồng bộ; ngành CNHT trong nước còn non trẻ, quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu của các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần một công trình luận giải toàn diện nội hàm, tính hai mặt của CNHT dưới giác độ kinh tế chính trị, đồng thời đánh giá thực chứng thực trạng tại các ngành công nghiệp trọng điểm để đề xuất hệ thống giải pháp đến năm 2020.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT, vai trò và tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CNHT; phân tích, đánh giá thực trạng CNHT trong ba ngành công nghiệp chủ yếu (xe máy, dệt may, điện tử) tại Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013; từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển CNHT trong các ngành này đến năm 2020.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành 04 nhiệm vụ cụ thể:
- Luận giải những vấn đề lý luận chung về CNHT và làm rõ vai trò của CNHT đối với nền kinh tế quốc dân và ngành công nghiệp.
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển CNHT của một số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan), từ đó rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng CNHT trong ngành xe máy, dệt may và điện tử ở Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2013; chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển CNHT trong một số ngành công nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế đến năm 2020.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam, tập trung vào 03 ngành chủ yếu là xe máy, dệt may và điện tử dưới góc độ kinh tế chính trị.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động CNHT của 03 ngành xe máy, dệt may và điện tử trên phạm vi cả nước.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2013, định hướng giải pháp đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Nhóm lý luận chung và vai trò của CNHT: Báo cáo điều tra của JICA (1995) tại Nhật Bản về vai trò và tính liên kết của ngành CNHT; nghiên cứu của Prema-Chandra Athukorala (2002) phân tích mối quan hệ giữa sản xuất linh kiện, CNHT với khả năng thu hút và thẩm thấu dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại các nước đang phát triển.
- Nhóm phát triển các ngành CNHT: Sách trắng về hợp tác kinh tế của MITI/METI Nhật Bản (1985) lần đầu tiên đưa ra thuật ngữ CNHT để chỉ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) sản xuất linh phụ kiện tại các nước ASEAN; nghiên cứu của Goh Ban Lee (1998) về liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và hệ thống thầu phụ cung ứng linh kiện điện tử nội địa tại Malaysia, Thái Lan, Indonesia.
- Nhóm giải pháp phát triển CNHT: Mô hình "viên kim cương" của Michael Porter (1990) về lợi thế cạnh tranh quốc gia, trong đó ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ là một trong bốn yếu tố quyết định; nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu IDE APEC (1999) của E. về vai trò của DNNVV trong CNHT tại Nhật Bản và Thái Lan; các báo cáo về điều chỉnh chính sách CNHT ô tô, điện tử sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997.
- Nhóm CNHT với sự phát triển kinh tế quốc dân: Nghiên cứu của Peter Larkin (2011) về vai trò của CNHT tại Thái Lan đối với việc giảm chi phí và nâng cao sức hấp dẫn đầu tư; khảo sát so sánh của Goodwill Consultant JSC và VDF (2011) về chính sách phát triển CNHT giữa Malaysia, Thái Lan và Việt Nam; tài liệu phân tích CNHT ngành cơ khí tại Malaysia.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Nhóm lý luận chung và vai trò: Kyoshiro Ichikawa - JETRO (2004) đánh giá sự hình thành sơ khai của CNPT tại Việt Nam; Trần Văn Thọ (2005) nghiên cứu vai trò của CNPT như một hướng đi để khắc phục điểm yếu của công nghiệp Việt Nam; Phan Đăng Tuất (2005) phân tích việc tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản; Nguyễn Đức Hải (2005) đề xuất giải pháp phát triển CNPT; Nguyễn Văn Thanh (2006) phân tích mối quan hệ giữa khu công nghiệp, khu chế xuất với phát triển CNHT; công trình do Kenichi Ohno chủ biên - VDF (2007) khảo sát thực trạng CNHT và đề xuất cơ sở dữ liệu CNHT của Junichi Mori; Trương Đình Tuyển (2011) đề xuất mô hình tổ chức sản xuất sản phẩm CNHT theo sơ đồ hình thang 4 giai đoạn.
- Nhóm nghiên cứu theo ngành cụ thể: Đề tài của Viện Kinh tế Việt Nam do Nguyễn Trọng Xuân chủ nhiệm (2007) về CNHT ngành ô tô, xe máy; đề tài Đại học Ngoại thương do Nguyễn Hoàng Ánh chủ nhiệm (2008) về chuỗi giá trị ngành điện tử; bài viết của Nguyễn Ngọc Sơn (2008) về CNHT dệt may; luận án tiến sĩ của Trương Thị Chí Bình (2010) về CNHT ngành điện tử gia dụng; đề tài của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp (2011) về năng lực doanh nghiệp và mô hình liên kết ngành dệt may; luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Dung Huệ (2012) về CNHT dệt may; luận án của Đỗ Minh Thụy (2012) về CNHT ngành giày dép tại Hải Phòng; nghiên cứu của Nguyễn Đình Tài (2013) về cụm liên kết ngành.
- Nhóm nghiên cứu về giải pháp và chính sách: Các công trình của Trần Quang Lâm và Đinh Trung Thành (2007); Lê Thế Giới (2008); Đặng Thu Hương và Trần Ngọc Thìn (2009); đề tài cấp Nhà nước và sách chuyên khảo do Hoàng Văn Châu chủ biên (2010); đề tài Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp (2010); bài viết của Phạm Tất Thắng (2013); đề tài do Vũ Nhữ Thăng chủ nhiệm tại Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (2013); đề tài cấp tỉnh của Nguyễn Trường Sơn (2013) tại Quảng Ngãi; Kế hoạch 131/KH-UBND của UBND TP. Hà Nội (2013); Quy hoạch phát triển CNHT của UBND tỉnh Long An (2013).
- Nhóm nghiên cứu tổng thể nền kinh tế: Luận văn của Junichi Mori (2005) tại Đại học Tufts về rào cản quy mô và thông tin của CNHT Việt Nam; Quy hoạch phát triển CNHT đến năm 2010, tầm nhìn 2020 (Quyết định 34/2007/QĐ-BCN); đề tài của Trần Đình Thiên (2007); nghiên cứu của Kenichi Ohno (2008) về quan hệ đối tác Monozukuri Việt Nam - Nhật Bản; nghiên cứu của Nguyễn Văn Lịch (2009).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Mặc dù có nhiều tài liệu đề cập đến CNHT, các công trình trước đây chưa làm rõ nội hàm của CNHT dưới góc độ kinh tế chính trị, chưa phân tích toàn diện tính hai mặt của CNHT trong điều kiện toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế, đồng thời chưa đi sâu đánh giá thực trạng kết hợp đồng thời 03 ngành xe máy, dệt may, điện tử giai đoạn 2006 - 2013 để đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý luận nền tảng: Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển, quá trình sản xuất tách rời thành các công đoạn độc lập nhưng phụ thuộc lẫn nhau, hình thành mối quan hệ kinh tế giữa ngành sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh và các ngành sản xuất chi tiết, linh kiện trung gian.
- Khung lý thuyết kinh tế học bổ trợ: Luận án tích hợp lý thuyết liên kết kinh doanh (business linkages), lý thuyết chuỗi giá trị (value chain), lý thuyết cụm liên kết doanh nghiệp công nghiệp (industrial cluster), mô hình lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter và lý thuyết mạng lưới sản xuất của các công ty đa quốc gia (MNCs/TNCs).
- Khái niệm và nội hàm CNHT do tác giả xác định: Luận án định nghĩa CNHT là một ngành kinh tế kỹ thuật, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm trung gian, cung cấp linh, phụ kiện máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã qua chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất theo các quy trình nhất định để lắp ráp các sản phẩm cuối cùng. Nội hàm CNHT thể hiện qua 5 đặc trưng: (1) là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù nảy sinh từ phân công lao động; (2) kết hợp nhân tố con người và máy móc có trình độ chuyên môn hóa cao; (3) có tính liên kết ngành rất cao; (4) thể hiện quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể; (5) gồm các sản phẩm trung gian phụ thuộc vào sản phẩm công nghiệp chính.
- Phân định phạm vi CNHT: Luận án chỉ ra 03 phạm vi tiếp cận:
- Phạm vi chính: Cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ chế tạo phụ tùng, linh kiện.
- Phạm vi rộng 1: Bao gồm phạm vi chính cộng với các dịch vụ sản xuất (hậu cần, kho bãi, phân phối, bảo hiểm).
- Phạm vi rộng 2: Cung cấp toàn bộ hàng hóa đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc và nguyên vật liệu cơ bản (thép, hóa chất).
- Mô hình các lớp cung ứng: Luận án phân tích cấu trúc tháp cung ứng gồm: Nhà lắp ráp chính $\rightarrow$ Nhà cung ứng lớp 1 (các tập đoàn lớn, công ty mẹ - con sản xuất linh kiện cốt lõi) $\rightarrow$ Nhà cung ứng lớp 2 (DNNVV độc lập cung cấp cụm chi tiết) $\rightarrow$ Nhà cung ứng lớp 3 và 4 (DNNVV gia công chi tiết đơn giản, hàng loạt).
[Nhà lắp ráp hoàn chỉnh (TĐĐQG / Doanh nghiệp chính)]
[Nhà cung ứng Lớp 1: Linh kiện chính, cụm chi tiết tinh xảo]
[Nhà cung ứng Lớp 2: Chi tiết, linh kiện chuyên dụng (DNNVV)]
[Nhà cung ứng Lớp 3 & 4: Gia công cơ khí đơn giản, chi tiết tiêu chuẩn, vật liệu phụ]
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, và phương pháp thống kê mô tả kinh tế.
- Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM), Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (VEIA), các tổ chức quốc tế JICA, JETRO, VDF và các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam từ năm 2000 đến năm 2013.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về CNHT, phân chia thành các mảng lý luận, thực trạng theo ngành và giải pháp chính sách. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế (Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia) đã khẳng định CNHT là điều kiện để thu hút và giữ chân dòng vốn FDI, hỗ trợ DNNVV tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã bước đầu tiếp cận thực trạng CNHT ở từng ngành đơn lẻ như xe máy, dệt may, điện tử gia dụng, giày dép hoặc theo địa bàn lãnh thổ. Tuy nhiên, các công trình chưa tiếp cận một cách hệ thống dưới góc độ kinh tế chính trị về tính hai mặt của CNHT đối với sự tự chủ và phụ thuộc của nền kinh tế trong quá trình phân công lao động quốc tế. Chương 1 xác định rõ các nội dung luận án sẽ tiếp tục giải quyết: làm rõ nội hàm và tiêu chí phát triển CNHT, đánh giá toàn diện 03 ngành xe máy, dệt may, điện tử giai đoạn 2006 - 2013 và xây dựng giải pháp đồng bộ đến năm 2020.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công nghiệp hỗ trợ
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về CNHT. Tác giả phân tích quá trình hình thành khái niệm CNHT tại Nhật Bản từ năm 1985 (MITI), Thái Lan, Đài Loan, Mỹ, châu Âu và Việt Nam (từ Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản năm 2003, Quyết định 73/2006/QĐ-TTg, Quyết định 34/2007/QĐ-BCN, đến Quyết định 12/2011/QĐ-TTg).
Luận án làm rõ 05 đặc điểm cơ bản của CNHT: tính đa cấp và liên kết; yêu cầu đa dạng về trình độ công nghệ; tính chất thị trường đặc thù gắn với các nhà lắp ráp; yêu cầu cao về nguồn nhân lực kỹ thuật, vận hành; và tính đa dạng của đối tượng tham gia với nòng cốt là DNNVV. Đồng thời, chương này chỉ ra 06 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới CNHT:
- Môi trường kinh tế vĩ mô và cơ chế chính sách của Nhà nước.
- Quan hệ liên kết khu vực, toàn cầu và ảnh hưởng của các tập đoàn đa quốc gia.
- Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
- Trình độ phát triển của các ngành công nghiệp cơ bản và quy mô khu vực hạ nguồn.
- Dung lượng thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Tiến bộ khoa học - công nghệ và năng lực nội địa hóa.
Chương 2 cũng phân tích vai trò mang tính hai mặt của CNHT: một mặt thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao giá trị gia tăng, tạo việc làm và tăng tính tự chủ kinh tế; mặt khác, nếu phát triển thiếu quy hoạch có thể dẫn đến sự phụ thuộc quá mức vào các chuỗi cung ứng của công ty đa quốc gia, đối mặt rủi ro khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy (như trường hợp sự cố động đất, sóng thần năm 2011 tại Nhật Bản). Về thực tiễn, luận án tổng kết kinh nghiệm phát triển CNHT của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Malaysia, rút ra bài học về vai trò định hướng chính sách, quy định tỷ lệ nội địa hóa hợp lý và hỗ trợ chuyển giao công nghệ cho DNNVV.
Chương 3: Thực trạng công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013
Chương 3 phân tích thực trạng CNHT tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2013 trên 03 ngành: xe máy, dệt may và điện tử thông qua hệ thống bảng số liệu và biểu đồ thống kê.
| Danh mục bảng số liệu trong Chương 3 |
Nội dung kinh tế phản ánh |
| Bảng 3.1 & Bảng 3.2 |
Giá trị sản xuất công nghiệp và quy mô lao động trong lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng giai đoạn 2006 - 2013. |
| Bảng 3.3 & Biểu đồ 3.4 |
Quy mô vốn, lao động và số lượng doanh nghiệp CNHT trong ngành sản xuất xe máy. |
| Bảng 3.4 |
Tỷ lệ nội địa hóa thực tế của các hãng sản xuất xe máy chủ lực tại Việt Nam (Honda, Yamaha, SYM, Piaggio). |
| Bảng 3.5 & Bảng 3.6 |
Giá trị sản xuất công nghiệp và số lượng lao động trong lĩnh vực CNHT ngành dệt may. |
| Bảng 3.7 & Biểu đồ 3.5 |
Doanh thu và trị giá xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may giai đoạn 2000 - 2012/2013. |
| Bảng 3.8 |
Tình hình nhập khẩu nguyên phụ liệu (bông, xơ sợi, vải, phụ liệu may) của ngành dệt may từ năm 2006 đến 2012. |
| Bảng 3.9 & Biểu đồ 3.8 |
Số lượng doanh nghiệp CNHT ngành điện tử và tổng doanh thu công nghiệp điện tử giai đoạn 2006 - 2013. |
| Bảng 3.10 |
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin và linh kiện điện tử giai đoạn 2008 - 2013. |
| Bảng 3.11 |
Đánh giá tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức (SWOT) về CNHT Việt Nam. |
Thực trạng theo 03 ngành nghiên cứu:
- Ngành xe máy: Đạt tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong các ngành cơ khí chế tạo (nhiều dòng xe đạt trên 80% - 90%). Tuy nhiên, các linh kiện có hàm lượng công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn chủ yếu do các doanh nghiệp FDI lớp 1 đảm nhận; doanh nghiệp 100% vốn trong nước chủ yếu gia công chi tiết đơn giản (nhựa, ốc vít, bao bì, gia công khung sườn đơn giản).
- Ngành dệt may: Xuất khẩu tăng trưởng mạnh nhưng giá trị gia tăng thấp do phụ thuộc lớn vào nhập khẩu nguyên phụ liệu thượng nguồn (vải, xơ sợi, hóa chất nhuộm). Mối liên kết giữa dệt - nhuộm - may còn lỏng lẻo; khâu dệt và xử lý nhuộm hoàn tất là "nút thắt cổ chai" do hạn chế về công nghệ và quy chuẩn xử lý môi trường.
- Ngành điện tử: Tăng trưởng doanh thu và xuất khẩu cao nhờ sự xuất hiện của các tập đoàn FDI lớn (như Samsung, Intel), nhưng số lượng doanh nghiệp CNHT nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng lớp 1 rất ít. Phần lớn linh kiện điện tử tinh vi, bán dẫn, vi mạch phải nhập khẩu từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan; doanh nghiệp trong nước chủ yếu cung ứng bao bì carton, linh kiện nhựa đơn giản hoặc dịch vụ lắp ráp cấp thấp.
Đánh giá SWOT tổng thể: Điểm mạnh là nguồn lao động dồi dào, chi phí cạnh tranh, chính trị ổn định; Điểm yếu là năng lực công nghệ thấp, thiếu vốn, liên kết doanh nghiệp yếu, thiếu dữ liệu thông tin; Cơ hội từ làn sóng dịch chuyển FDI và các hiệp định thương mại tự do; Thách thức từ cạnh tranh quốc tế gay gắt và nguy cơ rơi vào bẫy gia công giá trị thấp.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020
Chương 4 xác định hệ thống quan điểm phát triển và các giải pháp thực thi.
Quan điểm cơ bản:
- Phát triển CNHT phải gắn với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia và quá trình cơ cấu lại nền kinh tế.
- Kết hợp hài hòa giữa nội lực và ngoại lực, lấy doanh nghiệp trong nước làm nòng cốt dài hạn và tận dụng FDI làm động lực lan tỏa công nghệ.
- Lựa chọn phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các sản phẩm và công đoạn Việt Nam có lợi thế so sánh trong ngành xe máy, dệt may, điện tử.
- Phát triển CNHT gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Luận án viện dẫn Bảng 4.1 về nhóm chỉ tiêu phấn đấu của ngành công nghiệp đến năm 2020, làm cơ sở định lượng cho các mục tiêu nội địa hóa và tăng trưởng GTSX công nghiệp.
Hệ thống giải pháp chủ yếu:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách và khung khổ pháp lý: Ban hành Luật hoặc Nghị định chuyên biệt về phát triển CNHT; thành lập Cục Công nghiệp hỗ trợ trực thuộc Bộ Công Thương để thống nhất quản lý nhà nước; hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu máy móc thiết bị và hỗ trợ tiếp cận đất đai trong các KCN.
- Chính sách tài chính và tín dụng: Thành lập Quỹ phát triển CNHT; hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư đổi mới công nghệ cho các DNNVV sản xuất sản phẩm hỗ trợ.
- Xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về CNHT: Triển khai mô hình hệ thống cơ sở dữ liệu (Sơ đồ 4.1) kết nối thông tin cung - cầu giữa các doanh nghiệp lắp ráp FDI và các nhà sản xuất linh phụ kiện trong nước.
- Phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo kỹ sư thực hành, kỹ thuật viên lành nghề thông qua liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp FDI (theo mô hình đào tạo thực hành Monozukuri).
- Thúc đẩy liên kết kinh doanh và hình thành cụm liên kết ngành (Industrial Cluster): Xây dựng các khu, cụm công nghiệp chuyên sâu về CNHT cho xe máy tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, cụm dệt may tại miền Trung và miền Nam, cụm điện tử tại Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Nguyên, TP. Hồ Chí Minh.
- Giải pháp cụ thể theo từng ngành:
- Ngành xe máy: Chuyển dịch doanh nghiệp nội địa từ gia công đơn thuần sang tự thiết kế, chế tạo khuôn mẫu chính xác; mở rộng cung ứng phụ tùng sang thị trường xuất khẩu.
- Ngành dệt may: Đầu tư phát triển khâu dệt, nhuộm và sản xuất nguyên phụ liệu chất lượng cao; quy hoạch các khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn.
- Ngành điện tử: Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia vào sản xuất linh kiện cơ khí chính xác, linh kiện nhựa - cao su kỹ thuật cao, bo mạch in (PCB) phục vụ các tập đoàn FDI.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Làm rõ nội hàm và đặc trưng kinh tế chính trị của CNHT: Luận án định vị CNHT là một phân ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù của nền sản xuất hiện đại, giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa phân công lao động xã hội, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất trong bối cảnh toàn cầu hóa.
- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ phát triển CNHT: Xác định các tiêu chí định lượng và định tính đánh giá quy mô, năng lực công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, cơ cấu lớp cung ứng và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp CNHT.
- Luận giải tính hai mặt của CNHT: Phân tích rõ tính hai mặt của việc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: vừa tạo cơ hội tiếp nhận công nghệ, mở rộng thị trường, vừa tiềm ẩn rủi ro phụ thuộc kinh tế và dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài nếu thiếu vắng năng lực tự chủ công nghệ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Bức tranh thực trạng toàn diện giai đoạn 2006 - 2013: Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết, phân tích so sánh thực trạng phát triển CNHT giữa 03 ngành có tính chất công nghệ và thị trường khác biệt: ngành cơ khí chế tạo (xe máy), ngành thâm dụng lao động (dệt may) và ngành công nghệ cao (điện tử).
- Hệ thống giải pháp mang tính khả thi đến năm 2020: Đề xuất cụ thể việc thành lập cơ quan chuyên trách quản lý CNHT, xây dựng mô hình Cơ sở dữ liệu CNHT quốc gia, cơ chế hỗ trợ tài chính cho DNNVV và định hướng quy hoạch cụm liên kết ngành theo vùng kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Do giới hạn về nguồn dữ liệu và phạm vi nghiên cứu dưới giác độ kinh tế chính trị, luận án tập trung khảo cứu sâu vào 03 ngành điển hình (xe máy, dệt may, điện tử) mà chưa thể bao quát toàn bộ các ngành công nghiệp khác như ô tô, da giày, cơ khí đóng tàu, công nghệ thông tin mềm.
- Khung thời gian dữ liệu thực chứng dừng lại ở năm 2013, các số liệu giai đoạn sau chưa được cập nhật trong công trình này.
- Luận án tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quản lý vĩ mô và kinh tế chính trị, các khía cạnh kỹ thuật chuyên sâu về tiêu chuẩn kỹ thuật vật liệu chưa đi sâu phân tích chi tiết từng mã linh kiện.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng đánh giá thực trạng CNHT sang các ngành công nghiệp chế tạo mới nổi và công nghệ cao khác.
- Cập nhật và đánh giá tác động thực tế của Nghị định 111/2015/NĐ-CP về phát triển công nghiệp hỗ trợ sau khi được Chính phủ ban hành.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chuyển giao công nghệ giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước trong bối cảnh thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cán bộ nghiên cứu tại Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có thể tham khảo cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư, thuế, đất đai, thành lập quỹ hỗ trợ và thiết lập cơ sở dữ liệu kết nối doanh nghiệp CNHT.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung lý luận kinh tế chính trị vững chắc về chuyên môn hóa sản xuất, chuỗi giá trị và phương pháp phân tích thực trạng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
- Hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp: Các hiệp hội (VAMM, VITAS, VEIA) và các DNNVV có thể tham khảo mô hình các lớp cung ứng, phân tích điểm mạnh - điểm yếu và các rào cản để định hướng chiến lược đầu tư công nghệ, liên kết kinh doanh và tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa công nghiệp hỗ trợ như thế nào?
Luận án định nghĩa CNHT là một ngành kinh tế kỹ thuật, bao gồm các ngành sản xuất sản phẩm trung gian, cung cấp linh, phụ kiện máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu đã qua chế biến và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất theo các quy trình nhất định để lắp ráp các sản phẩm cuối cùng.
2. Ba phạm vi tiếp cận công nghiệp hỗ trợ được luận án nêu ra là gì?
Luận án chỉ ra 03 phạm vi: (1) Phạm vi chính gồm các ngành cung cấp linh kiện, phụ tùng và công cụ sản xuất linh kiện, phụ tùng; (2) Phạm vi rộng 1 bao gồm phạm vi chính cộng thêm các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối, bảo hiểm; (3) Phạm vi rộng 2 bao gồm toàn bộ hàng hóa đầu vào (linh kiện, phụ tùng, công cụ máy móc và nguyên vật liệu cơ bản như thép, hóa chất).
3. Cấu trúc các lớp cung ứng trong công nghiệp hỗ trợ được phân chia như thế nào?
Hệ thống cung ứng được phân thành các tầng tháp: Nhà lắp ráp chính ở đỉnh tháp; Nhà cung cấp lớp 1 (các tập đoàn lớn, công ty liên kết chuyên sản xuất linh kiện cốt lõi); Nhà cung cấp lớp 2 (DNNVV độc lập cung cấp các chi tiết, linh kiện chuyên dụng quan trọng); Nhà cung cấp lớp 3 và 4 (các cơ sở gia công linh kiện đơn giản, hàng loạt, giá trị gia tăng thấp).
4. Điểm khác biệt lớn nhất về thực trạng CNHT giữa ngành xe máy, dệt may và điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 là gì?
Ngành xe máy đạt tỷ lệ nội địa hóa cao nhất (trên 80% - 90%) nhưng khâu sản xuất linh kiện cốt lõi do doanh nghiệp FDI lớp 1 nắm giữ; ngành dệt may có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu vải và xơ sợi thượng nguồn; ngành điện tử tăng trưởng xuất khẩu nhanh nhờ FDI nhưng doanh nghiệp nội địa tham gia rất hạn chế, chủ yếu cung cấp vật liệu phụ hoặc linh kiện bao bì cấp thấp.
5. Luận án đề xuất giải pháp nào để giải quyết tình trạng thiếu thông tin kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI?
Luận án đề xuất xây dựng Hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về công nghiệp hỗ trợ (Sơ đồ 4.1) do cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương/Cục Công nghiệp hỗ trợ) vận hành, chuẩn hóa thông tin năng lực sản xuất, quy chuẩn chất lượng của các nhà cung ứng trong nước để kết nối trực tiếp với nhu cầu mua hàng của các tập đoàn lắp ráp đa quốc gia.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hà Thị Hương Lan đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ dưới giác độ kinh tế chính trị, phân tích sâu sắc bản chất chuyên môn hóa và tính hai mặt của việc tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. Công trình đã phản ánh chân thực bức tranh thực trạng CNHT tại ba ngành xe máy, dệt may và điện tử ở Việt Nam giai đoạn 2006 - 2013 với đầy đủ dữ liệu thống kê minh chứng. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đến quy hoạch cụm liên kết ngành nhằm thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển đến năm 2020.