phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về công nghiệp hỗ trợ và quản lý nhà nƣớc 8 đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ tại thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ tại thành phố Hà Nội 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Cơ sở khoa học về công nghiệp hỗ trợ 1. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Khái niệm Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đƣợc định nghĩa khác nhau giữa các nƣớc và các tổ chức khác nhau, với cách nhìn và mục tiêu khác nhau trong phát triển ngành này. Thuật ngữ CNHT ra đời đầu tiên ở Nhật Bản.
Bản thân cụm từ CNHT đƣợc dịch trực tiếp từ thuật ngữ gốc trong tiếng Nhật là ―Suso-no San-gyuo‖, trong đó Suso-no nghĩa là ―Chân núi‖ và Sangyuo là ―Công nghiệp‖. Nếu xem toàn bộ quy trình sản xuất một sản phẩm nhƣ một quả núi thì các ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò chân núi, còn công nghiệp lắp ráp, sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng đóng vai trò đỉnh núi. Do đó, nếu không có CNHT rộng lớn, vững chắc thì cũng sẽ không có công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất cuối cùng bền vững, ổn định. Với cách hình dung nhƣ trên, tổng thể ngành công nghiệp có thể đƣợc xem nhƣ là sự kết hợp giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng, trong đó, CNHT đƣợc coi là cơ sở nền tảng, công nghiệp lắp ráp sản xuất hoàn tất sản phẩm cuối cùng có vai trò hoàn thành giá trị sử dụng của sản phẩm.
Tuy vậy, tại các nƣớc trên thế giới, tùy theo tình hình cụ thể và đặc thù của từng quốc gia, khái niệm CNHT có sự khác biệt nhất định. Ở Nhật Bản, thuật ngữ CNHT ban đầu đƣợc dùng để chỉ: ―các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) có đóng góp cho sự phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nƣớc Châu Á trong trung và dài hạn‖. Sau đó, định nghĩa chính thức của quốc gia về công nghiệp hỗ trợ đƣợc Bộ Kinh tế, Thƣơng mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) đƣa ra vào vào năm 1993: Công nghiệp hỗ 10 trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết nhƣ nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử). Một số tổ chức của các nƣớc cũng có cách định nghĩa riêng về CNHT.
Theo Văn phòng phát triển công nghiệp hỗ trợ Thái Lan (Bureau of Supporting Industries Development – BSID): Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản (nhấn mạnh các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những công nghiệp hỗ trợ quan trọng). Đây là khái niệm và khá tƣơng đồng với khái niệm về CNHT của Việt Nam ( Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ định nghĩa: ―Công nghiệp hỗ trợ: là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng‖) – Khái niệm có tính chất chung nhất đó là công nghiệp hỗ trợ không phải là một ngành cụ thể mà bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất sản phẩm trung gian (linh kiện, bộ phận) cung cấp cho ngành lắp ráp. Khái niệm này hoàn toàn khác với cách phân loại các ngành công nghiệp nhƣ hiện nay thành các ngành công nghiệp cơ khí, công nghiệp điện – điện tử, công nghiệp dệt may – da giầy. Dựa trên mức độ phức tạp của ba công đoạn sản xuất chính là: (1) chế tạo vật liệu, (2) sản xuất gia công phụ tùng, linh kiện, (3) lắp ráp hoàn chỉnh.
Công nghiệp hỗ trợ thuộc về công đoạn (2) là sản xuất gia công phụ tùng, linh kiện. – Một số khái niệm khác cho rằng công nghiệp hỗ trợ là ngành công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Công nghiệp hỗ trợ rất đa dạng bao gồm cả ngành đúc nhựa và chế tạo khuôn đúc, gia công 11 cơ khí, đúc, rèn, hàn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt. Sản xuất những linh kiện, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm… bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế công đoạn 1 và 2.
Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thƣờng đƣợc sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hiện nay các công nghiệp hỗ trợ còn đƣợc hiểu là các ngành sản xuất nền tảng của ngành công nghiệp chính yếu. Bắt đầu từ việc sản xuất nguyên vật liệu công đoạn 1 đến gia công chế tạo các sản phẩm phụ tùng, linh kiện, nguyên phụ liệu bằng các công nghệ chuyên môn hóa sâu công đoạn 2, đáp ứng cho ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp các sản phẩm thuộc công cụ, tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng công đoạn 3. Công nghiệp hỗ trợ có tính chất đan chéo nhau, nghĩa là có thể gia công, cung cấp sản phẩm đồng thời cho nhiều ngành công nghiệp khác nhau.
Thông thƣờng ở các nƣớc phát triển, công nghiệp hỗ trợ phát triển trƣớc làm cơ sở để ngành công nghiệp chính nhƣ: ngành công nghiệp ô tô, xe máy, điện tử, dệt may, da giầy, viễn thông phát triển. Trên thực tế cũng có quốc gia mà hai công nghiệp hỗ trợ và chính yếu phát triển song song: công nghiệp hỗ trợ phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chính yếu phát triển đồng thời kích thích công nghiệp hỗ trợ phát triển theo. Tóm lại, cho đến nay ít nhất có hai quan niệm tƣơng đối khác nhau về công nghiệp hỗ trợ : – Quan niệm thứ nhất cho rằng: công nghiệp hỗ trợ bao gồm những ngành sản xuất sản phẩm trung gian có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất một loại sản phẩm cuối cùng nhất định. Tuỳ từng loại sản phẩm cụ thể cần sản xuất, những sản phẩm trung gian có thể bao gồm nguyên, vật liệu, linh kịên phụ tùng, các bộ phận (chi tiết) lẻ, phụ liệu, bao bì, nhãn mác… Đây là quan niệm gắn với yêu cầu của sản phẩm cuối cùng để xác định sản phẩm trung gian cần có – Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ.
12 – Quan niệm thứ hai cho rằng: công nghiệp hỗ trợ là toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất tạo ra các thành phẩm chính. Chúng bao gồm những linh kiện, phụ kiện, nguyên liệu, sơ chế, phụ liệu phụ tùng, bao bì, sản phẩm trung gian… Nhƣ vậy, các quan niệm trên vừa đề cập đến nhiều loại sản phẩm vừa đề cập tới một loại sản phẩm. Do dó, có thể nói ―công nghiệp hỗ trợ ‖ là một thuật ngữ khá mơ hồ, nếu không có một khái niệm cụ thể thì khó có thể xác định đƣợc ngành công nghiệp nào là công nghiệp hỗ trợ và hỗ trợ cái gì và cho ai?. Do có sự tƣơng đối trong khái niệm của công nghiệp hỗ trợ nên việc phân biệt phạm vi của công nghiệp hỗ trợ cũng chƣa đƣợc thống nhất.
Nghị định 111/NĐ-CP, ngày 3/11/2015 của Chính phủ nêu rõ: CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tƣ liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Sản phẩm CNHT gồm: Vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm sản xuất tại Việt Nam để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh thuộc các ngành cơ khí chế tạo, điện tử - tin học, sản xuất lắp ráp ôtô, dệt may, da giày và công nghiệp công nghệ cao. Nhƣ vậy, công nghiệp hỗ trợ không phải là một ngành cụ thể mà chúng bao hàm toàn bộ những lĩnh vực sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tƣ liệu, công cụ sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng. Đây là quan niệm của tác giả về công nghiệp hỗ trợ và sẽ đƣợc sử dụng xuyên suốt trong qúa trình nghiên cứu luận văn.
Có thể nói thêm, công nghiệp hỗ trợ cần đƣợc coi là một cơ sở công nghiệp hoạt động với nhiều chức năng để phục vụ số lƣợng lớn các ngành lắp ráp, chứ không nên coi chúng đơn giản chỉ là ngành ―thu thập‖ ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không liên quan. Công nghiệp hỗ trợ không chỉ sản 13 xuất linh kiện mà quan trọng hơn là thực hiện quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận nhựa và kim loại, chẳng hạn nhƣ cán, ép dập khuôn. Hơn nữa, không nên quan niệm một cách đơn giản công nghiệp hỗ trợ chỉ gồm những sản phẩm trung gian đƣợc sản xuất một cách rời rạc ở những doanh nghiệp đơn độc mà nên quan niệm công nghiệp hỗ trợ là một ngành cho dù sản phẩm của nó rất đa dạng nhiều chủng loại. Nhận thức công nghiệp hỗ trợ là một ngành công nghiệp có ý nghĩa rất quan trọngtrong chiến lƣợc đầu tƣ của Nhà nƣớc và trong sự liên kết tạo ra sức mạnh cạnh tranh.
Trên thực tế, khái niệm công nghiệp hỗ trợ thƣờng đƣợc sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất những sản phẩm có sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. Đặc điểm của phát triển công nghiệp hỗ trợ Một là, công nghiệp hỗ trợ phát triển gắn kết với ngành/phân ngành công nghiệp hoặc sản phẩm công nghiệp cụ thể nào đó (đối tƣợng hỗ trợ) và tích hợp theo cả chiều dọc và chiều ngang. Đồng thời, sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ có tác dụng thúc đẩy những ngành công nghiệp (sản phẩm) phát triển và thu hút đầu ra của các cơ sở sản xuất hỗ trợ cấp dƣới. Hai là, sử dụng nhiều vốn và mức độ lành nghề của công nhân có yêu cầu cao hay không cao còn tùy thuộc vào mỗi ngành là đối tƣợng hỗ trợ.