phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, bố cục của bài luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 2: Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ tại thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2022 Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý nhà nƣớc nhằm đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ tại thành phố Hải Phòng 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ 1. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Khái niệm thuật ngữ Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đƣợc hiểu và giải thích khác nhau ở mỗi quốc gia và khu vực khác nhau, với cách nhìn cùng mục đích khác nhau trong quá trình phát triển ngành công nghiệp này. Nhật Bản là quốc gia tiên phong phát triển và đƣa ra khái niệm CNHT đầu tiên và lúc bấy giờ chính là "công nghiệp phụ trợ".
Trong tiếng Nhật thì CNHT là "Suso-no San-gyuo", với "Suso-no" là "Chân núi" và "San-gyuo" là "Công nghiệp". Theo nghĩa bóng thì ta có thể hiểu theo hƣớng: Nếu toàn thể quá trình sản xuất của một sản phẩm hoàn thiện ví nhƣ một trái núi thì ngành CNHT có ý nghĩa ví nhƣ ngọn núi – xƣơng sống của quy trình sản xuất; ngành công nghiệp lắp ráp và sản xuất hoàn chỉnh sản phẩm là ngọn núi. Do đó nếu không có CNHT vững vàng và rộng rãi sẽ không có ngành công nghiệp sản xuất lắp ráp vững chắc và phát triển. Theo cách hiểu trên thì toàn bộ ngành công nghiệp có thể hiểu đơn giản là sự phối hợp của CNHT và công nghiệp lắp ráp để sản xuất sản phẩm hoàn thiện sau cùng, trong đĩ ngành CNHT đƣợc xem là xƣơng sống.
Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia trên toàn cầu và tuỳ thuộc theo điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia thì khái niệm CNHT có sự khác biệt nhất định. [12] Năm 1993, Bộ Kinh tế - Thƣơng mại và Công nghiệp Nhật Bản đã đề ra bộ khái niệm mới, theo đó định nghĩa CNHT là các ngành công nghiệp cung cấp những nhân tố đầu vào quan trọng bao gồm nguyên liệu và vật liệu đầu vào, linh kiện và phụ kiện. phục vụ các ngành công nghiệp lắp ráp. [12] Bên cạnh đó, một số nƣớc khác cũng có cách hiểu tƣơng tự đối với CNHT: (i) Theo Văn phòng phát triển CNHT Thái Lan (Bureau of Suppporting Industries Development – BSID) thì CNHT là những ngành công 7 nghiệp cung cấp linh kiện và phụ kiện cho máy hoặc thiết bị sản xuất và công nghiệp phụ trợ cho những ngành công nghiệp cơ bản.
Cách hiểu trên cũng phù hợp với khái niệm ngành CNHT của Việt Nam. (ii) Theo Nghị định số 111/2015/NĐ-CP ngày 03/11/2015 của Chính phủ quy định phát triển công nghiệp phụ trợ đã nêu rõ khái niệm: “CNHT là những ngành sản xuất nguyên liệu, vật liệu, linh kiện và phụ tùng cần thiết cung cấp cho sản xuất sản phẩm hoàn thiện”. [15] Nếu chia quy trình sản xuất ra thành 03 công đoạn chủ yếu là (1) sản xuất vật liệu, (2) sản xuất gia công phụ tùng và linh kiện, (3) lắp ráp hoàn thiện sản phẩm, vậy CNHT thuộc về công đoạn (2) là sản xuất gia công linh kiện và phụ tùng. CNHT rất phong phú và bao hàm tất cả những ngành công nghiệp: sản xuất chất dẻo và chế tạo khuôn mẫu dập, gia công kim loại, đúc, hàn và luyện kim, xử lí bề mặt; hay các ngành sản xuất phụ tùng, linh kiện và sản phẩm sử dụng nguyên liệu thô cũng thuộc loại này.
Sản phẩm CNHT chủ yếu đƣợc sản xuất với qui mô nhỏ và đƣợc những doanh nghiêp nhỏ và vừa phải thực hiện. Tuy nhiên vẫn có một số ngành CNHT đƣợc ứng dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất những sản phẩm có sự kết hợp của nhiều bộ phận lắp ráp và yêu cầu sự độ chính xác cao và phải sản xuất hàng loạt với từng công đoạn lắp ráp riêng biệt. [24] CNHT không phải đơn thuần là một ngành trung gian sản xuất một cách riêng lẻ và độc lập mà với tính chất phức tạp và đặc trƣng của ngành thì CNHT có vai trò quyết định đối với kế hoạch sản xuất và tạo sự gắn kết tăng sức sản xuất của các doanh nghiệp. Nhƣ vậy, CNHT được hiểu là một ngành công nghiệp đảm nhận những khâu sản xuất sản phẩm trung gian gồm linh kiện, phụ kiện và nguyên liệu đã được xử lý theo những qui trình thích hợp nhằm cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ra những sản phẩm cuối cùng.
Khái niệm về quản lý nhà nước về phát triển công nghiệp hỗ trợ 8 Theo Thƣ viện luật (https://thuvienphapluat.vn/hoi-dap-phap-luat/1DBCA- hd-quan-ly-nha-nuoc-la-gi.html): Quản lý nhà nƣớc là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nƣớc đƣợc các cơ quan nhà nƣớc thực hiện nhằm thiết lập một trật tự ổn định và phát triển đất nƣớc theo các mục tiêu do giai cấp thống trị xác định và gồm mọi hoạt động của cả hệ thống nhà nƣớc từ tổ chức lập pháp đến hành pháp và tƣ pháp vận hành thành một thể thống nhất; Kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đƣợc cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bởi quyền lực cƣỡng chế của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, Quản lý nhà nước đối với phát triển công nghiệp hỗ trợ là quá trình can thiệp của chủ thể quản lý nhà nước đến hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ bằng những chính sách, biện pháp và cơ chế nhằm định hướng hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ vận hành đảm bảo phù hợp với những quy luật tự nhiên và phù hợp với định hướng, mục tiêu của nhà nước. Đặc điểm của phát triển công nghiệp hỗ trợ Một là, công nghiệp hỗ trợ phát triển gắn chặt với một ngành công nghiệp hoặc một lĩnh vực công nghiệp nhất định nào đấy (viết tắt là "đối tƣợng hỗ trợ ") với ảnh hƣởng theo cả chiều rộng và chiều sâu: Song song với chức năng hỗ trợ những ngành công nghiệp hoặc ngành hàng phát triển thì công nghiệp hỗ trợ cũng có chức năng là nguồn vào đối với những hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ cấp dƣới. Hai là, yêu cầu về mức vốn đầu tƣ, trình độ công nghệ và trình độ tay nghề của công nhân trong công nghiệp hỗ trợ tùy thuộc vào đặc thù của từng đối tƣợng hỗ trợ.
Công nghiệp hỗ trợ đảm nhận khâu trung gian cho tất cả các ngành: công nghiệp lắp ráp, công nghiệp chế biến… Đối với mỗi ngành công nghiệp, CNHT đáp ứng các yêu cầu khác nhau, ví dụ: CNHT linh kiện, phụ kiện cho công nghiệp lắp ráp thì trình độ công nghệ và kỹ năng nghề của lao động đạt ở mức cao hơn so với CNHT sơ chế nguyên liệu cung ứng cho công nghiệp 9 chế biến; vốn đầu tƣ cho ngành CNHT cung ứng cho CN chế tạo, lắp ráp cũng lớn hơn CNHT cung ứng cho công nghiệp chế biến. Ba là, CNHT tổ chức bộ máy sản xuất và cung ứng theo mô hình thầu phụ hoặc nhà cung ứng trung gian, theo đó tạo một hệ thống tổ chức sản xuất có sự liên kết cao của giữa doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT. Bốn là, đối với mỗi ngành hàng/mỗi sản phẩm cụ thể đều có một/một số DN sản xuất sản phẩm CNHT với quy mô vừa hoặc nhỏ nhƣng mức chuyên môn hoá sâu, dải sản phẩm hẹp, mẫu mã sản phẩm linh hoạt, dễ thay đổi theo nhu cầu khách hàng, sức cạnh tranh cao. Năm là, thị trƣờng xuất khẩu của sản phẩm CNHT gồm cả thị trƣờng trong nội địa và thị trƣờng xuất khẩu.
Sáu là, giá trị sử dụng của sản phẩm CNHT có giá trị cao hơn sản phẩm đƣợc bán ra thị trƣờng. Vai trò của phát triển công nghiệp hỗ trợ Theo Lê Xuân Sang và Nguyễn Thị Thu Huyền [10], CNHT có vai trò rất quan trọng, là động lực trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng, đƣợc thể hiện qua những khía cạnh cụ thể: - CNHT góp phần tạo thêm giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp mà còn là một trong các nhân tố quan trọng để hạ giá thành và gia tăng năng suất đồng thời cải thiện tính ổn định của sản phẩm công nghiệp góp phần thúc đẩy nhanh chóng tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế của một đất nƣớc. Các ngành công nghiệp khác sẽ kém khả năng phát triển và chuyên môn hoá cũng sẽ chỉ bó hẹp trong một thiểu số của ngành nếu thiếu vắng sự tham gia của CNHT. - Những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHT chủ yếu có thiên hƣớng chú trọng chuyên môn hoá cao ở một/vài khâu hoặc bộ phận sản phẩm có thế mạnh.
Đồng thời, khối doanh nghiệp CNHT còn tăng cƣờng hợp tác với doanh nghiệp để phát triển và tạo các sản phẩm hoàn thiện. Do sự chuyên môn 10 hoá cao và tập trung phát triển sản phẩm của doanh nghiệp mình cộng với sự hợp tác hoá chặt nên sẽ tạo hiệu quả, chất lƣợng và lợi nhuận cao hơn nữa. - CNHT là một trong các nhân tố giúp cho doanh nghiệp hoà nhập kinh tế thế giới và vào hệ thống sản xuất quốc tế. Trong bối cảnh các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia lớn chi phối, điều tiết hệ thống kinh tế thế giới, các nƣớc đang phát triển (trong đó có Việt Nam) không cách nào khác cũng chịu sự chi phối, điều tiết đó và chỉ có thể từng bƣớc thích ứng, hợp tác và hội nhập.
Để tiên phong trong cuộc cạnh tranh hội nhập quốc tế trong công nghiệp thì phải tăng cƣờng vai trò của nghành công nghiệp phụ trợ một khi các sản phẩm công nghiệp phụ trợ thành một bộ phận chủ chốt tạo thành chuỗi sản phẩm của những tập đoàn công nghiệp đa quốc gia trên thế giới. Nhờ vậy, CNHT sẽ đóng góp một bộ phận quan trọng của nền sản xuất công nghiệp quốc tế. Giá trị sản xuất của CNHT sẽ góp mặt trong cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam cũng nhƣ thế giới. Ngƣợc lại, nếu CNHT không lớn mạnh sẽ làm cho những nhà máy gia công và sản xuất thành phẩm sau cùng sẽ bị lệ thuộc lớn với nguồn nguyên liệu nhập.
Cho dù những sản phẩm này có thể đƣợc cung cấp với giá rẻ từ thị trƣờng nƣớc ngoài nhƣng chi phí đầu vào vẫn tăng nhiều do chủng loại nhập khẩu nhiều, phải tiêu tốn một khoản nhất định cho chi phí vận chuyển, bảo hiểm, chi phí thời gian. Đó là chƣa nói đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu, đứt gãy chuỗi cung ứng mà giai đoạn đại dịch Covid- 19 vừa qua là một minh chứng điển hình.