Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản, cơ sở lý thuyết dùng trong nghiên cứu 1. Sức khỏe răng miệng - Một số khái niệm về sức khỏe răng miệng: + Sức khỏe răng miệng là một chỉ số quan trọng của sức khỏe tổng thể, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống. Nó bao gồm một loạt các bệnh và tình trạng như sâu răng, bệnh quanh răng, mất răng, ung thư miệng, các biểu hiện ở miệng của nhiễm HIV, chấn thương răng miệng, noma (bệnh cam tẩu mã) và các dị tật bẩm sinh như khe hở môi và vòm miệng [1].
+ Sức khỏe răng miệng có nhiều khía cạnh và bao gồm khả năng nói, cười, ngửi, nếm, chạm, nhai, nuốt và truyền đạt một loạt cảm xúc thông qua các biểu hiện trên khuôn mặt một cách tự tin và không đau, khó chịu và bệnh về phức hợp sọ mặt (đầu, mặt và khoang miệng) [20]. + Sức khỏe răng miệng là một tình trạng thoải mái về mặt chức năng, cấu trúc, thẩm mỹ, sinh lý và tâm lý rất cần thiết cho sức khỏe và chất lượng cuộc sống nói chung của một cá nhân [22]. - Bệnh răng miệng là bệnh tổn thương phần tổ chức cứng của răng, các tổ chức quanh răng và niêm mạc miệng. Bệnh phổ biến bao gồm bệnh lý về răng, bệnh lý mô mềm và mô cứng quanh răng, bệnh lý niêm mạc miệng, lưỡi [3].
+ Bệnh sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn của tổ chức can xi hóa được đặc trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng [22], [23], [24]. + Bệnh quanh răng (còn gọi là bệnh nha chu) là tình trạng bệnh lý của mô quanh răng. Bệnh quanh răng bao gồm hai loại tổn thương chính là các bệnh của lợi (bao gồm các bệnh tổn thương ở lợi) và các bệnh của cấu trúc chống đỡ răng (như dây chằng quanh răng, xương ổ răng và xương răng (cement răng) [2], [25], [26]. Viêm quanh răng (còn gọi là viêm nha chu) là bệnh viêm nhiễm mô nâng đỡ răng do vi khuẩn đặc hiệu gây ra dẫn tới phá hủy dây chằng nha chu và xương ổ răng tạo thành túi nha chu hoặc gây tụt lợi hay cả hai triệu chứng trên [2], [25], [27].
- Bệnh lý niêm mạc miệng bao gồm những bệnh lý tại chỗ các cấu trúc niêm mạc miệng cũng như biểu hiện tại niêm mạc miệng của các bệnh lý toàn thân. Bệnh gồm hai nhóm chính là viêm miệng nhiễm trùng và viêm miệng không nhiễm trùng [29], [30], [31]. + Viêm miệng nhiễm trùng có thể do vi khuẩn, virus hay nấm. + Viêm miệng không nhiễm trùng chủ yếu liên quan đến bệnh tự miễn.
Nhiễm nấm miệng Nhiễm nấm miệng là tình trạng bao gồm nhiễm nấm ở niêm mạc miệng như ở niêm mạc lợi, sống hàm, má, môi, lưỡi và phục hình răng như răng giả, nền phục hình răng. Biểu hiện tổn thương niêm mạc miệng bằng những mảng bợn trắng bám dai và chắc trên bề mặt niêm mạc miệng, lưỡi sung huyết, dễ chảy máu [9], [10]. Phục hình răng Phục hình răng là một chuyên khoa trong chuyên ngành Răng - Hàm - Mặt, chuyên nghiên cứu để phục hồi các răng hay cấu trúc răng đã mất nhằm tái tạo và duy trì thẩm mỹ và chức năng. Phục hình răng gồm phục hình răng cố định và phục hình răng tháo lắp [32], [33], [34].
- Phục hình răng cố định là loại phục hình răng được thực hiện để bao bọc những thân răng bị mất mô răng lớn, để thay thế những thân răng bị mất hay để phục hồi những răng đã bị mất hoàn toàn, loại phục hình này được gắn chặt vào răng bệnh nhân [32], [35], [36]. - Phục hình răng tháo lắp là loại phục hình thay thế những răng mất bằng những răng giả nằm trên một hàm giả mà bệnh nhân mang hàm răng giả này có thể tự tháo ra và lắp vào trong miệng được [33], [37], [38]. + Phục hình răng tháo lắp từng phần (bán hàm). + Phục hình răng tháo lắp toàn phần (toàn hàm).
+ Phục hình răng tháo lắp toàn bộ (toàn hàm trên và toàn hàm dưới). Khái niệm chất lượng cuộc sống - Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Chất lượng cuộc sống là quan điểm của mỗi cá nhân về cuộc sống của bản thân trong bối cảnh văn hóa, xã hội và hệ thống các giá trị mà thuộc về họ, dựa trên các mục tiêu, kỳ vọng, chuẩn mực và mối quan tâm của họ. Đây là một khái niệm phạm vi rộng bị ảnh hưởng một cách phức tạp bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và mối quan hệ của họ với các đặc điểm nổi bật của môi trường [39].
- Chất lượng cuộc sống là một khái niệm mang tính chất khái quát hơn khái niệm sức khỏe, nó mang giá trị tinh thần hơn là sức khỏe thể chất đơn thuần, phản ánh mối quan hệ gia đình, hoạt động xã hội, nghề nghiệp, đời sống tinh thần, sự sáng tạo, niềm hy vọng, sự thành đạt [39], [41]. - Chất lượng cuộc sống là một thuật ngữ được sử dụng để đánh giá chung nhất về các mức độ tốt đẹp của cuộc sống đối với các cá nhân và trên phạm vi toàn xã hội cũng như đánh giá về mức độ sự sảng khoái, hài lòng hoàn toàn về thể chất, tâm thần và xã hội [41]. Khái niệm Vi nấm hay nấm (fungi) được coi là một giới riêng, có những đặc điểm sau đây: Là những sinh vật có nhân thực, có thành tế bào, dị dưỡng và sinh sản bằng bào tử [42], [43], [44]. Vi nấm gồm 2 nhóm là: - Nấm men: Có cấu trúc đơn bào nên còn gọi là nấm đơn bào - Nấm sợi: Có cấu trúc đa bào với hệ sợi phức tạp và còn được gọi là nấm mốc.
Nấm men - Hình thái và kích thước: Nấm men thường có hình cầu hoặc hình bầu dục, một số loại có dạng hình que và một số hình dạng khác. Kích thước trung bình của nấm men là 3-5 x 5-10 mm [42], [43], [44]. + Cấu tạo tế bào: Khác với vi khuẩn và xạ khuẩn, nấm men có cấu tạo tế bào khá phức tạp, gần giống như tế bào thực vật. Có đầy đủ các cấu tạo thành tế bào, màng tế bào chất, tế bào chất, ty thể, riboxome, nhân, không bào và các hạt dự trữ [42], [43], [44].
Thành tế bào: Thành tế bào nấm men được cấu tạo bởi hai lớp phân tử bao gồm 90% là hợp chất glucan và mannan, phần còn lại là protein, lipit và glucozamin [42], [43], [44]. Màng nguyên sinh chất: Màng nguyên sinh chất của nấm men dày khoảng 8nm có cấu tạo tương tự như màng nguyên sinh chất của vi khuẩn [42], [43], [44]. Tế bào chất của nấm men: Cũng tương tự như tế bào chất của vi khuẩn, độ nhớt của tế bào chất cao hơn của nước 800 lần [42], [43]. Nhân tế bào: Nhân tế bào nấm men là nhân điển hình, có màng nhân bên trong là chất dịch nhân có chứa hạch nhân.
Nhân tế bào nấm men ngoài DNA còn có protein và nhiều loại enzym. Hạch nhân của tế bào nấm men không phải chỉ gồm một phân tử protein như ở vi khuẩn mà đã có cấu tạo nhiễm sắc thể điển hình và có quá trình phân bào nguyên nhiễm gọi là gián phân. Quá trình gián phân gồm 4 giai đoạn như ở các sinh vật bậc cao. Số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào nấm men khác nhau tuỳ loại nấm men [42], [44].
Ty thể: Khác với vi khuẩn, nấm men đã có ty thể giống như ở tế bào bậc cao, đó là cơ quan sinh năng lượng của tế bào, ty thể của nấm men có hình bầu dục, được bao bọc bởi 2 lớp màng, màng trong gấp khúc thành nhiều tấm răng lược hoặc nhiều ống nhỏ làm cho diện tích bề mặt của màng trong tăng lên. Cấu trúc 2 lớp màng ty thể giống cấu trúc của màng nguyên sinh chất. Trên bề mặt của màng trong có đính vô số các hạt nhỏ hình cầu. Các hạt này có chức năng sinh năng lượng và giải phóng năng lượng của ty thể.
Trong ty thể còn có 1 phân tử DNA có cấu trúc vòng, có khả năng tự sao chép độc lập với tế bào [42], [43], [44]. Riboxom: Riboxome ở nấm men có 2 loại là loại thứ nhất là 80S gồm 2 tiểu thể 60S và 40S nằm trong tế bào chất. Loại thứ 2 là 70S thường có trong ty thể [42], [44]. Ngoài các cơ quan trên, nấm men còn có không bào và các hạt dự trữ như hạt Volutin, hạt này ngoài mang vai trò chất dự trữ mà còn dùng làm nguồn năng lượng cho nhiều quá trình sinh hoá học của tế bào.
Trong tế bào còn có một số hạt dự trữ khác như glycogen và lipit [43], [44]. Bào tử: Nhiều nấm men có khả năng hình thành bào tử. Có 2 loại bào tử là bào tử bắn và bào tử túi. Bào tử túi là những bào tử được hình thành trong một túi nhỏ gọi là nang.
Bào tử bắn là những bào tử sau khi hình thành nhờ năng lượng của tế bào bắn mạnh về phía đối diện [42], [44]. - Sinh sản: Ở nấm men có 3 hình thức sinh sản [42], [43], [44]. + Sinh sản sinh dưỡng: Là hình thức sinh sản đơn giản nhất của nấm men. Có 2 hình thức sinh sản sinh dưỡng là nảy chồi và hình thành vách ngăn ngang phân đôi tế bào như vi khuẩn.
+ Sinh sản đơn tính: Bằng hai hình thức là bào tử túi và bào tử bắn như đã trình bày trên. + Sinh sản hữu tính: Do hai tế bào nấm men kết hợp với nhau hình thành hợp tử. Hợp tử phân chia thành các bào tử nằm trong nang, nang chín bào tử được phát tán ra ngoài. Nếu hai tế bào nấm men có hình thái kích thước giống nhau tiếp hợp với nhau thì được gọi là tiếp hợp đẳng giao.
Nếu 2 tế bào nấm men khác nhau thì được gọi là tiếp hợp dị giao. - Trong chu trình sống của nhiều loài nấm men, có sự kết hợp các hình thức sinh sản khác nhau [42], [43], [44]. - Ý nghĩa thực tế của nấm men: Nấm men là nhóm vi sinh vật phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, nó tham gia vào các quá trình chuyển hóa vật chất, phân huỷ chất hữu cơ. Hoạt tính sinh lý của nhiều loài nấm men được ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp và các ngành khác.
Ngoài hoạt tính sinh lý, bản thân tế bào nấm men có rất nhiều loại vitamin và các acid amin, đặc biệt là các acid amin không thay thế [42], [43], [44]. Nấm sợi Nấm sợi hay nấm mốc cũng thuộc nhóm vi nấm.