Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC NGÀNH XUẤT BẢN 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về NNL tập trung luận giải về khái niệm NNL, quản lý NNL; cách thức xây dựng các chương trình về nhân lực cho một tổ chức; việc phát hiện và sử dụng nhân tài cho quốc gia; cách thức sử dụng nhân lực, lựa chọn cán bộ, nghệ thuật lãnh đạo; về công tác cán bộ, nhất là cán bộ LĐ,QL trong lĩnh vực quản lý nhân lực; doanh nghiệp và vấn đề đổi mới doanh nghiệp; quá trình tuyển dụng, định hướng công việc; chính sách sử dụng và quản lý nhân lực. Các nghiên cứu điển hình, như cuốn sách“Phát hiện và sử dụng nhân tài” [65], của Nhiệm Ngạn Thân (2015), giới thiệu những kiến thức và kinh nghiệm của tác giả trong việc phát hiện và sử dụng nhân tài; hàm chứa những tư tưởng, kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong cách dùng người, lựa chọn cán bộ, nghệ thuật lãnh đạo, thảo luận về tinh thần “đại học” và nêu lên các giá trị của văn hóa.
Cuốn sách “Australian human resource management: Framework and practice” [98], - 3rd ed. - North South Wale: McGraw-Hill, 2000 của R. Seward (2000), luận bàn về khái niệm về quản lý NNL; các lý thuyết quản lý nhân lực; các vấn đề về đạo đức, công nghệ, luật pháp. trong quản lý NNL.
Mối quan hệ giữa quản lý NNL và công nghiệp. Vai trò của quản lý NNL hiệu qủa, chất lượng, hoạch định và thực hiện công việc được giao. Cuốn sách “Entrepreneur magazine: Human resources for small businesses” [102], William R. Sullivan: John Wiley and Sons, c'1997, trình bày các cách thức xây dựng các chương trình về nhân lực cho một tổ chức: 12 Quá trình tuyển dụng, xác định tiền lương, định hướng công việc và đào tạo, chính sách và bố trí nhân lực, lợi ích người lao động, các vấn đề pháp luật và quản lý hồ sơ người lao động.
Cuốn sách “Employment relations and HRM in South Korea” [103], Kim Dong-One, Johngseok Bae. - Burlington: Ashgate, 2004, tập trung lý giải tác động mâu thuẫn giữa quan hệ công việc và vấn đề quản lý nhân lực dựa trên một cơ sở lý thuyết kết hợp với lý luận nảy sinh từ môi trường và chiến lược hành động. Đánh giá sự thay đổi về mô hình quan hệ công việc và quản lý nhân lực trong những thời kỳ quan trọng trước 1987, 1987 và 1997, sau 1997. Cuốn sách “Educational planning and human resource development” [104], F.
- Paris: UNESCO International Institute for Educational Planning, c'1969 là một trong những cuốn sách có giá trị, bộ tùng thư của UNESCO. Cuốn sách trình bày các quan điểm hiện đại về kế hoạch hóa và quản lý giáo dục và nhân lực. Dùng phương pháp hệ thống để phân tích mối liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố ảnh hưởng lên sự phát triển nhân lực ở các nước đang phát triển (đặc biệt là giáo dục, phát triển kinh tế, và sự đầu tư, giúp đỡ từ nước ngoài). Các công trình nghiên cứu về đào tạo NNL của các tác giả nước ngoài hướng vào phân tích lợi ích của việc đầu tư vào nguồn lực con người trong mối liên quan đến GD-ĐT, từ đào tạo chính quy ở các nhà trường, đến đào tạo, bồi dưỡng bên ngoài trường lớp, vừa làm, vừa học, cũng như ảnh hưởng của điều kiện KT-XH, môi trường, gia đình đến giáo dục nghề nghiệp.
Xu hướng của các hoạt động đào tạo và nâng cao giá trị con người; nhấn mạnh vào tiến bộ của các chính sách và việc thực hiện các chương trình GD-ĐT. Điển hình như nghiên cứu “Vốn con người - Phân tích lý thuyết và kinh nghiệm liên quan đặc biệt đến giáo dục” [13], của tác giả Gary S. Tác giả phân tích lý thuyết và phân tích thực nghiệm về vốn con 13 người (hay vốn nhân lực) và đầu tư vào vốn con người trong mối liên quan đến GD-ĐT. Cuốn sách “Apprendre et se former pour travailler dans la société du savoir” [99], Quatrième question à l''ordre du jour.
- (Conférence internationale du travail, 91e session, 2003. Tác giả nêu bật xu hướng tự học của cá nhân, đối lập lại với cách giáo dục truyền thống, qua đó đưa ra biện pháp nhằm tận dụng tối đa NNL. Cuốn sách “Best of the eLearning Guild’s learning solutions. Top articles from the eMagazine’s first five years” [100], của William R.
Cuốn sách bao gồm các bài báo hướng dẫn, danh sách kiểm tra, nhằm giúp người học tạo ra các giải pháp mang lại kết quả học tập thực sự. Các công trình nghiên cứu về xuất bản và đào tạo nhân lực ngành xuất bản Có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lĩnh vực Xuất bản và đào tạo NLNXB, có thể cung cấp cho Việt Nam những bài học kinh nghiệm quý báu. Các nghiên cứu khái quát về tiến bộ kỹ thuật và sự phát triển của ngành Xuất bản ở một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Austraylia, Singapore,… Sự phát triển tất yếu của xuất bản kỹ thuật số, xuất bản điện tử trong một thế giới đang phát triển, nhất là sự phát triển của công nghệ; sự chuyển đổi mô hình kinh doanh xuất bản của nhiều quốc gia trên thế giới. Các quy tắc mới của một số chính phủ trong cấp phép và kiểm duyệt đối với hầu hết các nhà cung cấp nội dung internet; quy tắc Quản lý Dịch vụ Xuất bản Trực tuyến, hướng tới sự kiểm soát hoàn chỉnh hơn qua thông tin có sẵn cho người dùng internet.
Các nghiên cứu cũng cho thấy, ở các nước đang phát triển, nơi xuất bản truyền thống phải đối mặt với những thách thức to lớn, kỹ thuật số có thể hoạt động như một công cụ thúc đẩy ngành Xuất bản phát triển. Tuy nhiên, điều rất quan trọng là không nên áp dụng một cách máy móc, mà thay vào đó là đầu tư vào các mô hình mới phù hợp hơn. 14 Cuốn sách “Luận đàm về ngành Xuất bản Trung Quốc” [34], của tác giả Trần Hân (2013), nghiên cứu các giai đoạn phát triển của các ngành Xuất bản Trung Quốc và những vấn đề có liên quan đến ngành Xuất bản Trung Quốc. Cuốn sách “Truyền thông số và chuyển đổi mô hình xuất bản” [37], của Châu Úy Hoa (2017), khái quát về tiến bộ kỹ thuật và sự phát triển của ngành Xuất bản.
Tìm hiểu những thay đổi trong truyền thông số và phương thức đọc, truyền thông số với ấn phẩm truyền thống, xuất bản số và quy trình xuất bản, truyền thông số và quản lý xuất bản, xuất bản số và mô hình kinh doanh, truyền thông số với vấn đề bảo hộ bản quyền. Tác giả Rüdiger Wischenbart (2014), trong cuốn “Global Trends in Publishing 2014”, đã đưa ra những nhận định về hướng phát triển của ngành công nghiệp xuất bản trong bối cảnh sự phát triển rộng lớn hơn của chuỗi giá trị số hóa ảnh hưởng đến tất cả những ngành công nghiệp nội dung. Tác giả đánh giá sự chuyển đổi của thị trường trong bối cảnh sách điện tử, số hóa đang là nhu cầu lớn của người đọc. Tác giả cũng chỉ ra rằng Trung Quốc đã nổi lên thành thị trường lớn thứ hai của xuất bản sau nước Anh, trên Đức và Nhật Bản.
Tác giả Octavio Kulesz (2011) của cuốn sách “Digital publishing in developing countries” [108], chỉ ra tính tất yếu của xuất bản kỹ thuật số trong một thế giới đang phát triển, nhất là sự phát triển của công nghệ. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã biến đổi mọi mắt xích của chuỗi xuất bản, từ đọc và viết sang in và bán. Ở các quốc gia công nghiệp phát triển, những thay đổi này đặc biệt rõ ràng và các công ty như Apple, Amazon, Google, Sony và Samsung đã thực sự định hình lại toàn bộ bối cảnh xuất bản. Cuốn sách “The pontential impact of digitaltechnologies on Business models” [109], Austraylia, là một nghiên cứu cho thấy rất rõ sự chuyển đổi mô hình kinh doanh xuất bản ở Austraylia dưới tác động của công nghệ kỹ thuật số khi sách điện tử ra đời.
Nghiên cứu đưa ra nhận định, sự xuất hiện và 15 phát triển của công nghệ kỹ thuật số có khả năng cung cấp các cơ hội đáng kể cho xuất bản trong cả hai định dạng in ấn và điện tử, và với tiến bộ trong thương mại điện tử, cung cấp triển vọng của mệnh đề giá trị mới và kinh doanh mô hình. Định dạng xuất bản kỹ thuật số mới gói gọn một loạt các đặc điểm bao gồm nhiều cơ sở hạ tầng lựa chọn, định dạng nội dung khác nhau và chế độ xem thiết kế cho phù hợp với yêu cầu khách hàng, quy trình biên tập và cập nhật thông tin trên máy chủ. Cuốn sách “China Imposes Broad New Restrictions on Publication of Internet Content” [110], Corporate & Securities - Technology, Pillsbury Winthrop Shaw Pittman LLP của Thomas M. Shoesmith and Julian Zou (2016), công bố việc áp đặt Quy tắc Quản lý Dịch vụ Xuất bản Trực tuyến của Cơ quan Quản lý Nhà nước về Báo chí, Xuất bản, Phát thanh, Điện ảnh và Truyền hình Trung Quốc (SAPPRFT) và Bộ Công nghiệp và Công nghệ Thông tin (MIIT), yêu cầu cấp phép và kiểm duyệt mới đối với hầu hết các nhà cung cấp nội dung internet, bao gồm các nhà xuất bản và tổng hợp tin tức, quảng cáo, nội dung truyền thông xã hội và trò chơi di động.
Nghiên cứu của Mr. Kazuyoshi Takeuchi (2018), trong cuốn “The Digital Publishing Distribution Market in Japan” [107], cho thấy, Nhật Bản bắt đầu xuất bản sách điện tử từ năm 2014, thị phần sách điện tử mỗi ngày một tăng và đi đôi với nó là thị trường sách truyền thống giảm xuống. Các NXB phải đối mặt với những thách thức từ việc sử dụng internet và những nội dung kỹ thuật số ngày càng gia tăng. Ấn phẩm “An Introduction to Publishing in Japan 2017 - 2018” [105], của Ủy ban Quốc tế, Hiệp hội NXB Sách Nhật Bản, giới thiệu về Xuất bản ở Nhật Bản những năm gần đây nhìn chung chủ yếu là các NXB tư nhân.
Chỉ có sách giáo khoa, các NXB tổ chức biên soạn, chính phủ thông qua Bộ Giáo dục phê duyệt và ban hành. Một số nghiên cứu về đào tạo nhân lực cho lĩnh vực Xuất bản chỉ ra rằng, đào tạo NNL trong xu thế hội nhập luôn gắn với sự phát triển của 16 KHCN, trong xuất bản đó là công nghệ kỹ thuật số; sự gia tăng của các hình thức đào tạo từ xa khiến các cơ sở giáo dục đại học phải cân nhắc lý do tại sao một số chương trình phù hợp với giáo dục từ xa hơn những chương trình khác.