Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngành Nông nghiệp, chuyên ngành Khoa học Cây trồng (Mã số: 9.10) với đề tài "Xây dựng ngưỡng thông số sinh lý mủ trên một số dòng vô tính cao su (Hevea brasiliensis Muell.)" được nghiên cứu sinh Đỗ Kim Thành thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Minh Trí và TS. Trần Thị Thúy Hoa.
Nghiên cứu lai tạo và chọn lọc giống đối với cây công nghiệp dài ngày như cao su đòi hỏi chu kỳ thời gian kéo dài và quỹ đất thí nghiệm lớn. Để rút ngắn thời gian và không gian khảo nghiệm, phương pháp tuyển non ở giai đoạn cây nhỏ thường được áp dụng, chủ yếu dựa trên hai chỉ tiêu là sinh trưởng và năng suất. Hạn chế của phương pháp tuyển non truyền thống là nguy cơ bỏ sót các dòng vô tính (dvt) có tiềm năng nhưng chưa bộc lộ đồng thời cả hai chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất lúc nhỏ, hoặc chọn phải những giống cho năng suất cao sớm nhưng không duy trì được tính bền vững trong chu kỳ kinh tế kéo dài 25 - 30 năm. Dựa trên nghiên cứu của Odier (1983) về độ tin cậy và tính lặp lại của các thông số sinh lý sinh hóa mủ giữa cây 3 năm tuổi và 5 năm tuổi, cùng công trình của Eschbach và ctv (1984) về mối quan hệ giữa thông số sinh lý mủ và năng suất, tác giả xác định sự cần thiết phải bổ sung các thông số sinh lý mủ vào hệ thống chỉ tiêu tuyển non nhằm bảo đảm yêu cầu năng suất cao, ổn định và tình trạng sinh lý của hệ thống ống mủ khỏe mạnh. Đồng thời, việc đánh giá nhiều chỉ tiêu cùng lúc đòi hỏi công cụ phân tích đa biến để phân nhóm và lý giải đặc tính dòng vô tính như kết quả bước đầu của Đỗ Kim Thành và Kim Thị Thúy (2003).
Bên cạnh đó, hội chứng khô mặt cạo (KMC/TPD) gây tổn thất kinh tế lớn khi làm suy giảm từ 5% đến 15% năng suất mủ cao su. Tại Việt Nam, các nghiên cứu chi tiết về hiện tượng khô mặt cạo gắn với biến thiên sinh lý mủ theo từng cấp độ khô chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Mặt khác, từ năm 2000 trở lại đây, nhiều dòng vô tính cao su mới do Việt Nam lai tạo được khuyến cáo trồng đại trà trên quy mô sản xuất hàng trăm ngàn hecta và bắt đầu bước vào giai đoạn cạo mủ. Nhu cầu chẩn đoán sinh lý mủ từ các công ty cao su nhằm kiểm soát chế độ khai thác hợp lý đòi hỏi phải có ngưỡng giá trị tham khảo khoa học của các thông số sinh lý mủ trên chính những giống mới này.
Mục tiêu tổng quát của đề tài là xây dựng được ngưỡng giá trị tham khảo đối với một số thông số sinh lý mủ chính làm cơ sở cho việc ứng dụng trong tuyển chọn giống mới và khảo sát KMC trong sản xuất cao su. Bốn mục tiêu cụ thể được văn bản xác định gồm:
- Đề xuất bổ sung bốn thông số sinh lý mủ (hàm lượng Đường, Thiols, Pi và TSC) là các chỉ tiêu mới trong tuyển non giống cao su.
- Xác định mối liên hệ giữa hiện tượng khô mặt cạo và các thông số sinh lý mủ.
- Xây dựng ngưỡng giá trị tham khảo các thông số sinh lý mủ của các dòng vô tính mới, phổ biến trên sản xuất nhằm phục vụ yêu cầu chẩn đoán sinh lý mủ vườn cây đang thu hoạch của các công ty cao su.
- Phân tích tương quan giữa năng suất mủ cao su và các thông số sinh lý mủ cũng như mối quan hệ qua lại giữa các thông số sinh lý mủ.
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các giống cao su mới từ chương trình lai hoa hữu tính, các giống cao su mới do Việt Nam lai tạo được khuyến cáo trên sản xuất (tiêu biểu như RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5 và các dòng lai nhóm LH), cùng một số giống nhập nội có quy mô trồng lớn (như PB 235).
Phạm vi không gian của đề tài được triển khai tại Bộ môn Sinh lý Khai thác và Trạm thực nghiệm cao su Lai Khê trực thuộc Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, đặt tại xã Lai Hưng, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương (vùng Đông Nam Bộ). Phạm vi áp dụng kết quả hướng đến diện tích cao su đại điền tập trung của các công ty cao su nhà nước và tư nhân. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và phân tích phòng thí nghiệm được tiến hành từ năm 2007 đến năm 2016, đồng thời kế thừa và tích hợp các số liệu quan trắc chưa công bố trong giai đoạn 1997 - 2004.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến giải phẫu, sinh lý, sinh hóa mủ và kỹ thuật khai thác cây cao su (Hevea brasiliensis):
- Giải phẫu vỏ và hệ thống ống mủ: Các công trình cổ điển và kinh điển của Bobilioff (1923), d’Auzac và ctv (1997), Nguyễn Thị Huệ (2007) phân định cấu trúc giải phẫu vỏ gồm lớp biểu bì hóa bần, vỏ cứng (da cát thô và da cát nhuyễn) và vỏ mềm (da lụa sát tầng sinh mô/tượng tầng chứa mật độ ống mủ dày đặc cung cấp sản lượng chính). Gomez và Chen (1967) xác định góc nghiêng của ống mủ lệch từ 2,1° đến 7,1° so với trục thẳng đứng thân cây, giải thích căn cứ thiết kế miệng cạo nghiêng 30°. Gomez và ctv (1972) ghi nhận số vòng ống mủ trung bình là 25,6 vòng trên 112 dòng vô tính và đường kính ống mủ biến thiên từ 21,6 đến 29,7 µm. Gomez (1982) chỉ rõ sự phân bố vòng ống mủ thay đổi theo tuổi: ở cây non, 40% số vòng ống mủ nằm trong phạm vi 1 mm cách tượng tầng; ở cây trưởng thành, 75% số vòng ống mủ tập trung cách tượng tầng khoảng 5 mm, đồng thời nhấn mạnh thao tác cạo phải giữ khoảng cách cách tượng tầng 1 mm để tránh tổn thương và duy trì dòng vận chuyển nhựa luyện.
- Thành phần hóa học và cơ chế đông mủ: Archer và ctv (1963), Dickenson (1965) mô tả ba thành phần cơ bản của mủ tươi: hạt cao su (chiếm 30% - 45%), hạt lutoid (10% - 20%) và hạt Frey-Wyssling (1% - 3%). Southorn và Yip (1968a, 1968b) chứng minh quá trình đông tụ cao su mang bản chất đẳng điện giữa các ion dương của B-serum giải phóng từ hạt lutoid bị vỡ với các điện tích âm trên màng hạt cao su. d’Auzac (1960) chỉ ra tỷ lệ Mg/P = 1 giúp hệ keo mủ ổn định, trong khi tỷ lệ Mg/P > 1 gây mất ổn định làm mủ đông ngay trên miệng cạo.
- Sinh tổng hợp cao su và các yếu tố giới hạn: Lynen (1969), Kekwick (1989), Jacob (1970) xác lập chuỗi tổng hợp cis-1,4-polyisoprene từ tiền chất đường sucrose qua con đường đường phân tạo pyruvate, acetate, Acetyl-CoA và isopentenyl pyrophosphate (IPP). Yusof và ctv (2000, 2003) phân lập protein RBSP kích thích sinh tổng hợp cao su trong C-serum. Tupy (1969a, 1969b, 1973a, 1973b, 1984) chứng minh vai trò trung tâm của sucrose và enzyme invertase bị kiểm soát bởi pH tế bào chất. Coupe (1977), Prevot và ctv (1984), Dusotoit-Coucaud và ctv (2007) làm rõ tác động của chất kích thích Ethrel (làm kiềm hóa tế bào chất, hoạt hóa ATPase màng lutoid, biểu hiện gene HbSUT6 tăng thu hút đường).
- Cơ chế dòng chảy và sự tái sinh mủ: Milford và ctv (1969) đưa ra chỉ số bít mạch mủ (plugging index - PI). Ribaillier (1968, 1971, 1972) phát triển phương pháp đo chỉ số vỡ lutoid (bursting index - BI) dựa trên acid phosphatase. Buttery và Boatman (1966, 1967), Pakianathan và ctv (1966, 1976), Lustinec và Resing (1965) nghiên cứu áp suất trương và các vùng huy động mủ.
- Phương pháp chẩn đoán mủ (Latex Diagnosis - LD): Jacob và ctv (1988) chuẩn hóa phương pháp chẩn đoán sinh lý mủ với bốn thông số then chốt: hàm lượng Đường (sucrose), Lân vô cơ (Pi), hợp chất Thiols (R-SH) và tổng hàm lượng chất khô (TSC). d’Auzac (1964, 1965b), Subronto (1978), Cretin và Bangratz (1983), Eschbach và ctv (1984), Prevot và ctv (1984, 1986, 1987) khẳng định tương quan giữa các thông số này với năng suất mủ và mức độ biến dưỡng.
- Tuyển non và khô mặt cạo: Odier (1983) nghiên cứu tính ổn định của thông số sinh lý ở cây non. Về khô mặt cạo, Buttery và Boatman (1976), Van de Sype (1984) ghi nhận hiện tượng kiệt quệ sinh lý, giảm TSC và rối loạn biến dưỡng đường khi khai thác quá mức.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết bao gồm: (1) Thiếu vắng việc tích hợp các thông số sinh lý mủ vào quy trình tuyển non giống cao su bằng phân tích thống kê đa biến trên cùng một tập đoàn giống qua hai giai đoạn sinh trưởng 39 tháng tuổi và 84 tháng tuổi; (2) Thiếu các dữ liệu định lượng về sự biến động của bốn thông số sinh lý mủ theo từng cấp độ bệnh lý KMC cụ thể tại Việt Nam; (3) Chưa từng có hệ thống ngưỡng giá trị tham khảo của bốn thông số sinh lý mủ (Đường, Pi, Thiols, TSC) cho các dòng vô tính mới do Việt Nam chọn tạo (nhóm RRIV) đang được đưa vào khai thác quy mô lớn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên khung lý thuyết chẩn đoán sinh lý mủ cao su (Latex Diagnosis) do CIRAD và Jacob và ctv (1988) khởi xướng. Hệ thống này quan niệm mủ cao su là tế bào chất chuyên hóa của mạch mủ (laticifer); trạng thái sinh lý của hệ thống tạo mủ được phản ánh thông qua sự cân bằng giữa hai quá trình: cường độ tái tạo mủ giữa hai lần cạo và tính liên tục của dòng chảy mủ sau khi cạo. Bốn thông số cốt lõi được định lượng gồm:
- Đường (Sucrose): Cơ chất carbon ban đầu cung cấp năng lượng và khung phân tử cho sinh tổng hợp isopren; phản ánh mức độ cung cấp năng lượng và khả năng đồng hóa của cây.
- Lân vô cơ (Pi - Inorganic phosphorus): Phản ánh mức độ chuyển hóa năng lượng ATP, cường độ dị hóa carbohydrate và quá trình phosphoryl hóa sinh tổng hợp cao su.
- Hợp chất Thiols (R-SH): Chất chống oxy hóa tế bào (chủ yếu là glutathione), giữ vai trò bẫy các dạng oxy hóa hoạt tính nhằm bảo vệ màng lutoid, ổn định hệ keo và kích hoạt các enzyme biến dưỡng.
- Tổng hàm lượng chất khô (TSC - Total Solid Content): Đại diện cho tỷ lệ hàm lượng cao su trong mủ; phản ánh mức độ nhớt của mủ tác động đến dòng chảy và hiệu quả tái sinh cao su tại chỗ.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo hướng định lượng kết hợp quan trắc đồng ruộng và phân tích hóa sinh trong phòng thí nghiệm:
- Nội dung 1 (Ứng dụng thông số sinh lý mủ trong tuyển chọn giống): Tiến hành khảo nghiệm trên 33 dòng vô tính cao su tại Trạm thực nghiệm Lai Khê. Quan trắc đồng thời năng suất mủ (g/c/c - gam/cây/lần cạo) và bốn thông số sinh lý mủ ở hai giai đoạn: cây non 39 tháng tuổi và cây trưởng thành 84 tháng tuổi trên cùng các cá thể theo dõi. Xử lý số liệu tương quan đơn và phân tích thành phần chính (Principal Component Analysis - PCA) nhằm xác định mức độ giải thích biến lượng của các biến số sinh lý đối với phân nhóm giống.
- Nội dung 2 (Khảo sát khô mặt cạo trong mối liên hệ với sinh lý mủ): Gồm ba thí nghiệm độc lập:
- Thí nghiệm 1: Khảo sát tỷ lệ cây KMC trên 13 dòng vô tính cao su phổ biến qua các năm cạo và vị trí mặt cạo.
- Thí nghiệm 2: Thực hiện xét nghiệm sàng lọc cây KMC nhằm theo dõi diễn tiến động thái của các thông số sinh lý mủ từ lúc cây bình thường đến khi xuất hiện triệu chứng khô mặt cạo hoàn toàn.
- Thí nghiệm 3: Khảo sát tỷ lệ KMC và phân tích mẫu mủ trên bốn dòng vô tính mới.
Phương pháp đánh giá hình thái gồm quan sát vết nứt vỏ, kiểm tra sự chảy mủ khi chích vỏ, đo tỷ lệ chiều dài đoạn khô trên miệng cạo để phân thành 4 cấp độ (Cấp 1 đến Cấp 4).
- Nội dung 3 (Xây dựng ngưỡng giá trị tham khảo và phân tích hồi quy): Bố trí theo dõi trên bốn dòng vô tính cao su mới do Việt Nam lai tạo đang trồng đại trà: RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4 và RRIV 5. Quan trắc năng suất (g/c/c) và lấy mẫu mủ định kỳ phân tích bốn thông số sinh lý.
- Kỹ thuật phân tích thống kê: Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS (Statistical Analysis Software). Kiểm tra phân phối chuẩn của các dãy số liệu bằng biểu đồ phân bố tần suất (histogram); các dãy số liệu có độ lệch (skewness) được áp dụng biến đổi logarit thập phân. Ngưỡng giá trị tham khảo được phân cấp theo công thức thống kê dựa trên giá trị trung bình (m) và độ lệch chuẩn (SD) hoặc khoảng phân vị: Thấp, Trung bình thấp, Tối hảo, Trung bình cao, Cao. Phân tích tương quan đơn (r) và xây dựng phương trình hồi quy tuyến tính đa biến (Multiple Linear Regression) giữa năng suất và bốn thông số sinh lý mủ.
Nguồn tư liệu và dữ liệu gồm các lô thí nghiệm giống STLK04 và các vườn thí nghiệm tại Trạm thực nghiệm cao su Lai Khê; số liệu khí tượng thời tiết (lượng mưa, ẩm độ không khí, nhiệt độ, giờ chiếu sáng) và đặc điểm lý hóa tính của đất xám bạc màu phù sa cổ tại vùng thí nghiệm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày toàn diện bức tranh ngành cao su thiên nhiên và các cơ sở sinh học liên quan. Tác giả tổng hợp lịch sử di thực hạt cao su từ lưu vực sông Amazon của Henry Wickham (1876) sang châu Á và du nhập vào Việt Nam năm 1897. Về sản xuất, đến cuối năm 2016, Việt Nam đạt diện tích 976.400 ha cao su (trong đó diện tích khai thác là 622.200 ha), tổng sản lượng vượt 1 triệu tấn, đứng thứ ba thế giới sau Thái Lan và Indonesia; năng suất bình quân đạt 1.659 kg/ha, dẫn đầu thế giới về năng suất cao su thiên nhiên. Diện tích phân bố tập trung tại Đông Nam Bộ (544.000 ha), Tây Nguyên (251.400 ha), Duyên hải Trung Bộ và Nam Trung Bộ (150.500 ha), miền núi phía Bắc (30.500 ha). Cơ cấu sản xuất gồm đại điền chiếm 51% (quốc doanh 420.000 ha, tư nhân 80.000 ha) và tiểu điền chiếm 49% (476.300 ha). Năm 2016, kim ngạch xuất khẩu ngành cao su đạt 4,85 tỷ USD.
Về điều kiện tự nhiên, Đông Nam Bộ có nhiệt độ bình quân năm 25 - 27°C, lượng mưa 1.800 - 2.000 mm tập trung 90% từ tháng 5 đến tháng 11. Đất xám bạc màu trên phù sa cổ có địa hình cao 30 - 50 m, tầng kết von đá ong dày đặc (>70%) ở độ sâu 70 - 120 cm, đất rất chua (pH 3,9 - 4,2), nghèo hữu cơ (mùn tầng mặt 1,56%), đạm tổng số 0,02 - 0,06% và nghèo lân. Đất đỏ bazan có độ dốc 0 - 8°, tơi xốp (59% - 61%), pH 4,3, mùn 2,8%, đạm 0,07 - 1,30%.
Phần giải phẫu và sinh hóa mủ mô tả chi tiết lớp vỏ kinh tế dày 2,5 - 3,0 m từ gốc. Mủ là hệ huyền phù chứa hạt cao su (30-45%), hạt lutoid (10-20%) và hạt Frey-Wyssling (1-3%). Các chất vô cơ chiếm 3,5% chất khô gồm N (0,26%), P (0,05%), K (0,17%), Mg (0,05%), Ca (0,003%). Cơ chế dòng chảy phụ thuộc vào sự hình thành nút bít miệng ống mủ (plugging) do lutoid vỡ giải phóng B-serum mang điện tích dương làm trung hòa màng hạt cao su. Cơ chế tái sinh phụ thuộc vào sự vận chuyển sucrose, hoạt tính enzyme invertase, pH tế bào chất, hàm lượng Pi (năng lượng sinh hóa) và Thiols (bảo vệ màng tế bào chống stress oxy hóa). Tổng quan phân tích các yếu tố hạn chế của phương pháp tuyển non truyền thống và các công bố quốc tế về hội chứng khô mặt cạo (TPD).
Chương 2: Nội dung - Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình vật liệu, địa điểm, các chỉ tiêu quan trắc và thuật toán thống kê cho 3 nội dung nghiên cứu:
- Nội dung 1: Nghiên cứu trên 33 dòng vô tính tại lô STLK04 (Trạm Lai Khê). Giai đoạn cây non cạo thử nghiệm ở 39 tháng tuổi; giai đoạn cây trưởng thành cạo chính thức ở 84 tháng tuổi. Chỉ tiêu gồm sản lượng mủ quy khô (g/c/c) và phân tích hóa sinh 4 chỉ tiêu mủ tươi: Đường (mM), Pi (mM), Thiols (mM), TSC (%). Xử lý số liệu kiểm tra tương quan đơn giữa cây non và cây trưởng thành, chạy mô hình PCA để lập đồ thị phân tán phân nhóm giống.
- Nội dung 2: Khảo sát KMC qua 3 thí nghiệm. Khảo sát hình thái vỏ, kiểm tra mủ bằng chích vỏ, phân loại cấp độ khô dựa trên tỷ lệ chiều dài đoạn cạo bị khô: Cấp 1 (khô dưới 25% chiều dài miệng cạo), Cấp 2 (25% - 50%), Cấp 3 (51% - 75%), Cấp 4 (khô trên 75% hoặc toàn phần). Theo dõi triệu chứng nứt vỏ do sinh lý theo hướng ống mủ hoặc do nấm Botryodiplodia theobromae. Xét nghiệm sàng lọc định kỳ các thông số sinh lý trên cây đang cạo bình thường đến khi khô mặt cạo trên giống mẫn cảm PB 235 và RRIV 3.
- Nội dung 3: Bố trí trên bốn dòng vô tính mới RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4 và RRIV 5. Thu thập mẫu mủ định kỳ, đo đạc năng suất. Thiết lập phân bố tần số (histogram), kiểm tra độ lệch skewness và chuyển đổi logarit để đạt phân phối chuẩn. Xác lập khoảng biến thiên và phân nhóm ngưỡng giá trị tham khảo. Thiết lập phương trình hồi quy tuyến tính đa biến $Y = a_0 + a_1 X_1 + a_2 X_2 + a_3 X_3 + a_4 X_4$ (với $Y$ là năng suất, $X_1$ đến $X_4$ là 4 thông số sinh lý mủ).
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Kết quả tuyển chọn giống ở Nội dung 1 xác định được mối tương quan từ mức độ khá đến chặt có ý nghĩa thống kê giữa năng suất và các thông số sinh lý mủ ở giai đoạn cây non 39 tháng tuổi so với cây trưởng thành 84 tháng tuổi. Phân tích thành phần chính (PCA) chứng minh tổ hợp 4 thông số sinh lý mủ kết hợp với năng suất giải thích được từ 60% đến 70% tổng biến thiên của tập đoàn giống. Từ 33 dòng vô tính thí nghiệm, luận án đã sàng lọc được 5 dòng vô tính triển vọng gồm LH95/147, LH95/90, LH95/376, LH96/89 và LH93/349 thể hiện sự vượt trội về cả năng suất mủ và các chỉ tiêu sinh lý mủ so với đối chứng.
Ở Nội dung 2, theo dõi tiến trình khô mặt cạo qua nhiều năm cạo cho thấy tỷ lệ KMC tích lũy tăng dần theo thời gian khai thác (thời gian cạo càng dài, tỷ lệ cây KMC cấp 4 càng cao). Khảo sát hình thái ghi nhận cây KMC có biểu hiện chích vào vỏ không có mủ chảy ra, xuất hiện các vết nứt vỏ sinh lý định hướng song song theo góc nghiêng của ống mủ hoặc nứt vỏ kết hợp nhiễm nấm thứ sinh Botryodiplodia theobromae. Khi phân tích sinh lý mủ trên 6 dòng vô tính phổ biến và 4 dòng vô tính mới theo từng cấp độ KMC, kết hợp xét nghiệm sàng lọc, luận án phát hiện sự suy giảm nghiêm trọng của hàm lượng Pi và Thiols khi cây chuyển sang trạng thái khô mặt cạo:
- Hàm lượng Pi < 10 mM là dấu hiệu cảnh báo KMC cho cả hai dòng vô tính PB 235 và RRIV 3.
- Hàm lượng Thiols < 0,3 mM là ngưỡng cảnh báo KMC đối với dòng vô tính PB 235.
- Hàm lượng Thiols < 0,4 mM là ngưỡng cảnh báo KMC đối với dòng vô tính RRIV 3.
Ở Nội dung 3, luận án đã xây dựng thành công bảng ngưỡng giá trị tham khảo của 4 thông số sinh lý mủ (Đường, Pi, Thiols, TSC) cho 4 dòng vô tính cao su mới (RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5). Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến khẳng định mối liên hệ chặt chẽ giữa năng suất và các thông số sinh lý mủ.
Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số thực nghiệm tiêu biểu được trích xuất từ kết quả nghiên cứu của luận án:
| Nội dung quan trắc / Chỉ tiêu |
Đối tượng / Dòng vô tính |
Dữ kiện số liệu định lượng trong văn bản |
| Dòng vô tính triển vọng (Nội dung 1) |
LH95/147, LH95/90, LH95/376, LH96/89, LH93/349 |
Năng suất và thông số sinh lý vượt trội so với đối chứng ở cả 39 và 84 tháng tuổi |
| Mức độ giải thích của mô hình PCA |
Tập đoàn 33 dòng vô tính |
4 thông số sinh lý mủ và năng suất đóng góp giải thích từ 60% đến 70% kết quả |
| Ngưỡng cảnh báo KMC của hàm lượng Pi |
Dòng vô tính PB 235 và RRIV 3 |
Giá trị phân tích Pi < 10 mM |
| Ngưỡng cảnh báo KMC của hàm lượng Thiols |
Dòng vô tính PB 235 |
Giá trị phân tích Thiols < 0,3 mM |
| Ngưỡng cảnh báo KMC của hàm lượng Thiols |
Dòng vô tính RRIV 3 |
Giá trị phân tích Thiols < 0,4 mM |
| Mức tổn thất sản lượng do KMC |
Sản xuất cao su chung |
Làm suy giảm từ 5% đến 15% năng suất |
| Xây dựng ngưỡng tham khảo 4 thông số |
RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5 |
Xác lập khoảng phân vị tham khảo cho Đường, Pi, Thiols, TSC |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận khoa học và thực tiễn sản xuất như sau:
Về mặt lý luận khoa học:
- Chứng minh đầy đủ cơ sở thực nghiệm khẳng định tính khả thi của việc bổ sung bốn thông số sinh lý mủ (Đường, Pi, Thiols, TSC) thành hệ thống chỉ tiêu mới trong công tác tuyển non giống cao su, giúp khắc phục nhược điểm của việc chỉ dựa vào sinh trưởng và năng suất ngắn hạn.
- Xác định phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) là công cụ hữu ích để phân tích bộ dữ liệu đa biến, cho phép giải thích từ 60% đến 70% biến thiên kết quả trong tuyển chọn giống cao su dựa trên tổ hợp nhiều chỉ tiêu sinh lý và năng suất.
- Cung cấp dẫn liệu khoa học mới về bản chất sinh lý của hội chứng khô mặt cạo tại Việt Nam: xác định sự sụt giảm của Lân vô cơ (Pi) và hợp chất Thiols đóng vai trò như chỉ báo sinh lý cảnh báo trước sự xuất hiện của hiện tượng khô mặt cạo.
Về mặt thực tiễn sản xuất:
- Sàng lọc và đề xuất 5 dòng vô tính lai mới đầy triển vọng gồm LH95/147, LH95/90, LH95/376, LH96/89 và LH93/349 cho các giai đoạn khảo nghiệm tiếp theo.
- Xác lập ngưỡng chỉ báo cảnh báo sớm hiện tượng KMC cụ thể: Pi < 10 mM cho PB 235 và RRIV 3; Thiols < 0,3 mM cho PB 235; Thiols < 0,4 mM cho RRIV 3.
- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống bảng ngưỡng giá trị tham khảo của bốn thông số sinh lý mủ cho bốn dòng vô tính cao su mới lai tạo tại Việt Nam (RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5) đang trồng quy mô lớn.
- Thiết lập hệ thống phương trình hồi quy tuyến tính đa biến giữa năng suất và các thông số sinh lý mủ cho từng dòng vô tính và chung cho 4 dòng vô tính, tạo công cụ định lượng hỗ trợ đánh giá tình trạng sinh lý vườn cây.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
- Ứng dụng ngưỡng giá trị tham khảo bốn thông số sinh lý mủ vào quy trình chẩn đoán mủ đại trà tại các công ty cao su nhằm theo dõi sức khỏe vườn cây, điều chỉnh nhịp độ cạo và nồng độ chất kích thích Ethrel thích hợp, ngăn ngừa khai thác quá mức.
- Sử dụng bốn thông số sinh lý mủ kết hợp công cụ PCA vào quy trình tuyển non giống mới của các cơ sở nghiên cứu chọn tạo giống cao su.
- Tiếp tục triển khai các nghiên cứu củng cố đối với chỉ báo Pi và Thiols cảnh báo KMC để nâng cao độ tin cậy thống kê trước khi ban hành quy chuẩn kỹ thuật đại trà.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày có chu kỳ sống 25 - 30 năm, các kết quả quan trắc ngưỡng chỉ báo KMC (Pi < 10 mM, Thiols < 0,3 mM và < 0,4 mM) mang tính mới mẻ bước đầu, cần có thêm các nghiên cứu bổ sung để thu thập số lượng mẫu lớn hơn nhằm gia tăng độ tin cậy thống kê.
- Địa bàn nghiên cứu thực địa tập trung chủ yếu tại Trạm thực nghiệm Lai Khê (Bình Dương) đại diện cho vùng Đông Nam Bộ; quy mô ứng dụng kết quả nhắm tới các diện tích đại điền tập trung, chưa bao quát đầy đủ đặc thù canh tác phân tán của các vườn cao su tiểu điền.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng các nghiên cứu khảo nghiệm và đánh giá ngưỡng tham khảo thông số sinh lý mủ trên các vùng sinh thái trồng cao su khác của Việt Nam như Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung và vùng núi phía Bắc nhằm kiểm chứng tính thích nghi sinh thái theo vùng.
- Tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu, bài bản hơn về cơ chế phân tử và hóa sinh tế bào liên quan đến sự suy giảm Pi và Thiols trên các cây bắt đầu có dấu hiệu khô mặt cạo.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn rõ ràng cho các nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà chọn giống: Chương 2 và Chương 3 là tài liệu hữu ích về phương pháp luận thiết kế thí nghiệm tuyển non giống cây công nghiệp dài ngày, phương pháp quan trắc sinh lý mủ ở hai giai đoạn sinh trưởng (39 tháng và 84 tháng tuổi), cùng kỹ thuật ứng dụng phần mềm SAS trong phân tích thành phần chính (PCA) và hồi quy đa biến để phân nhóm giống đa chỉ tiêu.
- Đối với cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và nhà quản lý tại các công ty cao su: Hệ thống bảng ngưỡng giá trị tham khảo bốn thông số sinh lý mủ của bốn dòng vô tính mới (RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5) tại Chương 3 cung cấp cơ sở định lượng trực tiếp để phòng thí nghiệm phân tích mẫu mủ, phục vụ quy trình chẩn đoán sinh lý mủ định kỳ, từ đó quyết định chế độ cạo (d2, d3, cạo úp/ngửa) và tần suất bôi chất kích thích sinh trưởng hợp lý.
- Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu sinh lý thực vật: Nội dung Chương 1 cung cấp tổng quan tư liệu sâu sắc về giải phẫu hệ thống ống mủ, cấu tạo vỏ kinh tế, hóa sinh huyền phù mủ cao su và cơ chế tác động của các ion vô cơ, enzyme và chất chống oxy hóa đối với sự tổng hợp polyisoprene.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn thông số sinh lý mủ cốt lõi được luận án nghiên cứu là gì và phương pháp phân tích thành phần chính (PCA) đóng góp vai trò như thế nào?
Bốn thông số cốt lõi gồm hàm lượng Đường (sucrose), Lân vô cơ (Pi), hợp chất Thiols (R-SH) và tổng hàm lượng chất khô (TSC). Khi đưa bốn thông số này cùng chỉ tiêu năng suất vào mô hình PCA để xử lý bộ số liệu của 33 dòng vô tính, kết quả chứng minh tổ hợp các biến số này giải thích được từ 60% đến 70% tổng biến thiên dữ liệu, hỗ trợ phân nhóm và đánh giá đặc tính sinh lý của các giống một cách chuẩn xác.
2. Thí nghiệm tuyển non trong luận án đã phát hiện những dòng vô tính cao su triển vọng nào?
Qua phân tích tương quan và đánh giá ở cả giai đoạn cây non 39 tháng tuổi và cây trưởng thành 84 tháng tuổi, luận án đã xác định được 5 dòng vô tính lai mới có năng suất và đặc tính sinh lý vượt trội gồm LH95/147, LH95/90, LH95/376, LH96/89 và LH93/349.
3. Dấu hiệu cảnh báo hiện tượng khô mặt cạo (KMC) được luận án xác định thông qua các thông số nào?
Luận án phát hiện hàm lượng Lân vô cơ (Pi) và Thiols sụt giảm xuống mức thấp là chỉ báo của tình trạng khô mặt cạo: giá trị phân tích Pi < 10 mM là dấu hiệu cảnh báo KMC cho cả hai dòng PB 235 và RRIV 3; giá trị Thiols < 0,3 mM là dấu hiệu cảnh báo cho PB 235; giá trị Thiols < 0,4 mM là dấu hiệu cảnh báo cho RRIV 3.
4. Luận án đã xây dựng ngưỡng giá trị tham khảo trên các dòng vô tính cao su cụ thể nào?
Ngưỡng giá trị tham khảo của bốn thông số sinh lý mủ được xây dựng trên bốn dòng vô tính mới do Việt Nam lai tạo đang được trồng rộng rãi trong sản xuất gồm RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4 và RRIV 5.
5. Theo dẫn liệu giải phẫu trong luận án, vì sao thao tác cạo mủ bắt buộc phải cách tầng sinh mô (tượng tầng) 1 mm?
Theo Gomez (1982) được trích dẫn trong Chương 1, việc giữ lại lớp vỏ dày 1 mm cách tượng tầng nhằm bảo vệ tượng tầng không bị tổn thương, đồng thời duy trì hệ thống mạch rây (libe) chưa bị cắt đứt để bảo đảm sự vận chuyển nhựa luyện (các sản phẩm quang hợp) từ tán lá xuống phục vụ quá trình tái tạo mủ và tái sinh vỏ cây sau khi cạo.
Kết luận
Luận án của Đỗ Kim Thành (2018) đã giải quyết trọn vẹn ba nội dung nghiên cứu thực nghiệm trên cây cao su tại vùng Đông Nam Bộ. Công trình đã cung cấp cơ sở khoa học để đưa bốn thông số sinh lý mủ vào phương pháp tuyển non kết hợp phân tích đa biến PCA, phát hiện các ngưỡng chỉ báo hóa sinh sớm (Pi và Thiols) đối với hiện tượng khô mặt cạo, và thiết lập thành công hệ thống ngưỡng tham khảo sinh lý mủ cho bốn dòng vô tính cao su mới (RRIV 1, RRIV 3, RRIV 4, RRIV 5). Đây là công trình nông học định lượng có giá trị ứng dụng trực tiếp đối với công tác chọn tạo giống và quản lý kỹ thuật khai thác mủ cao su đại điền tại Việt Nam.