đặt vấn đề nghiên cứu từ góc độ người dân, hoạt động khám chữa bệnh của người dân được xem xét tại hai khu vực y tế phi chính thức (khu vực phô thông, dân gian) và khu vực y tế chính thức (khu vực 14 chuyên môn). Một số phát hiện mới được trình bày tại chương 3. Mặc dù đã nỗ lực để mang đến một nghiên cứu có chất lượng, song do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên luận án không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Với phương pháp phân tích tài liệu, luận án sử dụng số liệu định lượng có sẵn từ đề tài “Vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây Nguyên” (Mã số: TN3/X07).
Tac gia da tham gia vao đề tài với tư cách thành viên đoàn khảo sát, nhưng một số dữ liệu có sẵn của đề tài không đủ và không phù hợp để sử dụng vấn đề nghiên cứu của luận án. Một số chiều cạnh của hoạt động khám chữa bệnh chưa được thực sự làm rõ đo số liệu định lượng sử dụng trong luận án chủ yếu dựa trên số liệu một đề tài nghiên cứu có nội dung rộng trong khi chủ đề nghiên cứu chỉ là một phần nhỏ và không phải trọng tâm của đề tài gốc. Hạn chế này được giảm thiểu bằng các phương pháp nghiên cứu khác tác giả đã tiến hành độc lập sau đó như phỏng vấn sâu và quan sát. Một hạn chế khác là địa bàn nghiên cứu ở khá xa Hà Nội, nên tác giả luận án không có điều kiện liên tục nghiên cứu thực địa.
Tuy nhiên, tác giả cũng cô gắng hết sức đến địa bàn nghiên cứu nhiều lần (2013 - 2016) để làm các phỏng vấn sâu, các nghiên cứu trường hợp, thu thập nhiều thông tin định tính và định lượng qua phân tích tài liệu để bù đắp hạn chế này. 15 CHUONG 1: TONG QUAN VAN Dé NGHIEN CUU Từ góc tiếp cận xã hội học sức khỏe và xã hội học y tế, các chủ đề sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh được nhiều học giả quan tâm chú ý và bàn luận. Trong nội dung tổng quan vấn đề nghiên cứu, tác giả sẽ tập trung phân tích các bài viết, nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước với hai mục chính: 7z nhất, tổng quan các nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật và hoạt động khám chữa bệnh của các nhà xã hội học trên thế giới và trong nước. 7# hai, tổng quan một số trường phái lý thuyết được vận dụng trong các nghiên cứu về sức khỏe, bệnh tật và khám chữa bệnh ở mục thứ nhất.1 Tông quan các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe và hoạt động khám chữa bệnh 1.1 Các nghiên cứu về chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh Ngày nay, một trong những chủ đề quan trọng trong xã hội học y tế là nghiên cứu về chính sách khám chữa bệnh.
Một số tên tuôi tiêu biểu trên thế giới có thé ké đến như: Bloom SW (1960), Freeman H (1979), Gray BH, Phillips SR (1995), Jennie Jacobs Kronenfeld (1995), Sarah Nettleton (1995). Bên cạnh đó, một số tác giả Đặng Nguyên Anh và Nguyễn Đức Vinh, Nguyễn Thị Vân Anh (2007), Trịnh Hòa Bình (2008), Nguyễn Thị Thu Hà (2013). cũng dành quan tâm cho chủ đề này. Những năm 50 thế kỷ trước, một số tác giả coi xã hội học y tế như một lĩnh vực độc lập nhưng lại chưa thấy tầm quan trọng của chính sách y tế trong xã hội học y tế.
Nghiên cứu “% sắc bén của lời nói: Lịch sử xã hội học y té” cua Bloom (2002) chỉ ra một trong những lý do xem nhẹ chính sách y tế trong sự phát triển của xã hội học y tế trước năm 1960 và năm 1970 là do khi so sánh giá trị của các phương pháp nghiên cứu ứng dụng và cơ bản trong xã hội học, người ta thường đánh giá các nghiên cứu ứng dụng có giá trị thấp hơn [Bloom, 2002]. Thực tế này dần thay đổi, vào những năm sau này, trong lần xuất bản thứ ba [Freeman và cộng sự, 1979] và thứ tư [Freeman và Levine, 1989], nội dung cuốn “Cẩm nang xã hội học y tế” quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu về chính sách y tế. Trong “Cẩm nang xã hội học y tế” xuất bản lần thứ ba, các tác giả đành riêng một 16 chương chỉ ra xu hướng xã hội học y tế trong tương lai và nhân mạnh phải quan tâm đến các chủ đề chính sách y tế và chính trị hơn nữa. Trong lần xuất bản thứ tư, mối quan tâm đến chính sách y tế thường được lồng ghép trong nhiều chương cụ thể, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe cho người nghẻo.
Gray BH, Phillips SR (1995) trong nghiên cứu “Đâu là điểm nói giữa xã hội học y tế và chính sách y tế?” đã chỉ ra tác động của xã hội học y tế đến chính sách chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh, đặc biệt là các chính sách về tổ chức và tài chinh cua hé théng y té [Gray BH, Phillips SR, 1995, tr. Nhà xã hội học người Anh Sarah Nettleton (1995) trong công trình nghiên cứu “Phân tích xã hội học về sự phát triển trong chính sách y tế Vương quốc Anh: Mô hình chăm sóc sức khỏe mới” cho rằng, trung tâm của chính sách y tế phải đề cập tới mối quan hệ bác sĩ và bệnh nhân, sự bất bình đăng về sức khỏe và công tác khám chữa bệnh. Chính sách y tế hiện đại nhấn mạnh van dé tăng cường sức khỏe cá nhân và chăm sóc sức khỏe cộng đồng [Nettleton. Theo Gray va O'Leary trong “Cam nang Xã hội học Y tế” [Bird và cộng sự.
2000], chính sách khám chữa bệnh chủ yếu là sản phẩm từ chương trình hành động của chính phủ, chỉ một phần nhỏ là nhờ nỗ lực của các tổ chức tư nhân và người sử dụng lao động liên quan tới cung cấp bảo hiểm y tế (BHYT) cho người lao động. Theo cách hiểu thông thường, khi nói tới chính sách y tế nói chung và khám chữa bệnh nói riêng là nói đến các chính sách cong [Bird CE, 2000, tr. Trong nghiên cứu “C?ính sách chăm sóc sức khỏe và Xã hội học Y tế”, Jennie Jacobs Kronenfeld đã chỉ ra tác động của các chính sách chăm sóc sức khỏe đến tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh, chi phí y tế, BHYT và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Từ đó tác giả cũng chỉ ra đòi hỏi phải cải cách chính sách y tế, hệ thống y tế cũng như khăng định vai trò tham vấn của các nhà xã hội học y tế đối với quá trình xây dựng và hoạch định chính sách y tế [Pescosolido, B.
Ở Việt Nam, vấn đề chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh là một nội dung quan trọng trong mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công băng, dân chủ văn minh của Việt Nam. Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là làm tất cả, từ những việc nhỏ nhất để chăm lo cho sức khỏe con người, đặt cơ sở để con người có cơ hội phát triển toàn diện, thực hiện đầy đủ nhất quyền quyết định đối với vận mệnh của mình và quyên làm chủ xã hội, làm chủ đât nước. 17 Nghiên cứu của James Allman (1993) “Chăm séc strc khée ban dau 6 Viét Nam ” đã nhận định Việt Nam nhân mạnh yếu tố công bang ở mọi khía cạnh đời sống kinh tế - xã hội trong vấn đề phát triển của con người. Với phương pháp tổng hợp, phân tích kết quả tổng điều tra dân số năm 1989 và một số số liệu của WHO, tác giả khăng định thông qua các chính sách y tế, những có găng của Bắc Việt Nam nhằm cải thiện sức khỏe nhân dân thể hiện qua các cuộc vận động các vấn đề chủ yếu của sức khỏe, nhấn mạnh công tác phòng ngừa tuyến xã và huấn luyện cán bộ y tế cùng với những biện pháp hữu hiệu trong những năm 60-70 [James Allman, 1993, tr.
Nghiên cứu “BHYT trong hệ thống an sinh xã hội: nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn ” (2006) của Trịnh Hòa Bình cho thấy người dân đã có nhận thức ngày càng đúng đắn về chính sách BHYT. Tuy vậy, số người nghèo cho răng chính sách BHYT cho đến nay còn chưa thật phù hợp vẫn chiếm số đông. Đồng thời, chính sách BHYT còn gặp nhiều vướng mắc như phân bổ quỹ, khó nâng cao chất lượng khám chữa bệnh trong điều kiện ngân quỹ còn hạn hẹp.[Trịnh Hòa Bình, 2006, tr. Chính sách BHYT là một chủ đề nghiên cứu được các nhà xã hội học quan tâm.
Nghiên cứu “Những yếu tổ quyết định khả năng tiếp cận BHYT ở Việt Nam” của tác giả Đặng Nguyên Anh và cộng sự (2007) đã tìm hiểu khả năng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh và tiếp cận BHYT của ba nhóm dân cư cơ bản là người nghèo nông thôn, lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các cán bộ công chức ở đô thị. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật hồi quy đa biến để xác định những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận BHYT của các nhóm dân cư, tìm hiểu rào cản đối với việc mở rộng độ che phủ của chương trình BHYT. Từ đó tìm hiểu những khác biệt chính sách và việc vận dụng chính sách với các nhóm dân cư khác nhau để tạo cơ sở khoa học cho việc can thiệp chính sách về an sinh xã hội và khám chữa bệnh bằng BHYT cho nhân dân [Đặng Nguyên Anh và cộng sự, 2007, tr. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà, Vũ Thị Minh Ngọc (2014) “Quản lý phát triển xã hội trong lĩnh vực y tế ở Tây Nguyên ”, đã chỉ ra chính sách y tế là một trong những chính sách lớn được Đảng và Nhà nước đã thực hiện ở Tây Nguyên.
Hệ thống cơ sở hạ tầng y tế tại Tây Nguyên đã có sự thay đổi đáng kê, số lượng bệnh viện, trạm y tế, 36 giường bệnh tăng gấp nhiều lần. Kết quả này có được 18 do các chính sách phát triển y tế từ sau năm 2000. Ngày nay, ngành y tế Tây Nguyên đã có những bước phát triển vững chắc, đạt được rất nhiều các kết quả, thành tựu trong hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở khu vực Tây Nguyên.