Chương 1: Tác giả luận bàn một số van dé lý luận về môi trường thiên nhiên và hệ sinh thái; về sự tác động của con người trong hệ sinh thái; về đặc điểm và ý nghĩa văn hoá trong ứng xử của con người đối với các hệ sinh thái. Chương 2: Tác giả trình bày những lý luận chung về đạo đức, về sinh thái và đạo đức sinh thái, về các chuẩn mực và hành vi đạo đức sinh thái. Theo tác giả, “Đạo đức sinh thái bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, tình cảm. Những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực,.
quy định, điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho sự sống cua con nguoi, su ton tai va phat triển của xã hội trong những điều kiện sinh thái còn có những nét đặc thù riêng, và hành vi đạo đức sinh thái cao nhất, hoàn hảo nhất và bao trùm nhất là sự tự giác của con người tuân thủ nghiêm ngặt các điều luật đã được ghi rõ trong “Luật bảo vệ môi trường” của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Năm 2011, tác giả Vũ Dũng xuất bản cuốn sách “Đạo đức môi trường ở nước ta — Lý luận và thực tiên ”. Nội dung cuỗn sách đề cập tới một số van đề lý luận cơ bản về đạo đức môi trường; khái niệm đạo đức, đạo đức môi trường, các tiêu chí đánh giá đạo đức môi trường, sự xuất hiện và những khuynh hướng cơ bản của đạo đức môi trường, các chức năng cơ bản của đạo 16 đức môi trường: kinh nghiệm bảo vệ môi trường ở một số nước nhìn từ góc độ đạo đức môi trường. Trong phần này, cuốn sách phân tích kinh nghiệm bảo vệ môi trường của một sé quéc gia, chỉ ra những khía cạnh dao đức cua những hoạt động bảo vệ môi trường.
Đây là những kinh nghiệm quý với chúng ta; Tổng quan về môi trường và ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay; Nhận thức của người dân về đạo đức môi trường; Thực trạng hành vi đạo đức môi trường ở nước ta. Từ góc độ của đạo đức môi trường, tác giả đã chỉ ra hiện nay còn có nhiều hành vi mang tính phi đạo đức môi trường xảy ra ở mọi nơi, từ thành thị, nông thôn đến miền núi. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm môi trường và việc bảo vệ môi trường chưa bền vững ở nước ta hiện nay. Điều đáng lo ngại là nhiều khi chúng ta ý thức được hậu quả của hành vi của mình, song vẫn thực hiện hành vi đó.
Nghĩa vụ bảo vệ môi trường không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân, thậm chí cả trong quá trình đấu tranh, thử thách của cuộc sống. Năm 2013, tác giả Nguyễn Văn Phúc đã xuất bản cuốn sách “Dao đức môi trường” trong đó có đề cập đến một số van đề như: công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu xây dựng đạo đức môi trường; các quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường; một số kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ môi trường và xây dựng đạo đức môi trường. Năm 2013, tác giả Đỗ Huy đã xuất bản cuốn sách “Van hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển” trong đó có đề cập đến van dé ứng xử của con người với tài nguyên môi trường để đổi mới và phát triển văn hóa. Qua đó, con người cần phải thức tỉnh và có cách ứng xử mới với thiên nhiên, phải tạo ra mối quan hệ thân thiện với tự nhiên.
17 Năm 2014, tác giả Nguyễn Xuân Kính xuất bản cuốn sách “Con người, Môi trường và Văn hóa”. Các tác giả cho rằng, con người tồn tại không thể tách rời mối quan hệ với môi trường sinh thái tự nhiên, môi trường sinh thái nhân văn. Day là van đề không chi mang tinh lý thuyết thuần túy, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức và tác động đến thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay. Cuốn sách “Con người, mồi trường và văn hóa ” tập hợp các bài viết (có bổ sung, sửa chữa) về chủ đề trên của tác giả Nguyễn Xuân Kính đã công bé trong các hội thao, tạp chí từ năm 1991 đến nay.
Thông qua cuốn sách, người đọc sẽ hình dung về người Việt trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính mình. Người Việt với những kiểu dang cụ thé: người nông dân, người thành thị, người thợ thủ công, người buôn bán, nhà nho, người trí thức tân học. với các khía cạnh âm thực, trang phục, đi lại và làm lụng, với một số biểu hiện của văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần, được tác giả đặt trong những thời kì, giai đoạn lịch sử cụ thê. Những công trình nghiên cứu trên cho thấy, những nghiên cứu về văn hóa môi trường từ nhiều góc độ ở nước ta rất đa dạng và phong phú, song những nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên còn rất khiêm tốn.
Tuy nhiên, những công trình nảy gián tiếp phản ánh những hành vi ứng xử có văn hóa với môi trường và những hành vi ứng xử chưa văn hóa với môi trường, từ đó góp phần xây dựng và hoàn thiện cách ứng xử với môi trường tự nhiên trong một nền văn hóa mới kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Bên cạnh các công trình nghiên cứu nói trên, trước tình hình cấp thiết của van đề môi trường, phát triển bền vững và sự ứng xử của con người với tự nhiên, đã có nhiêu văn bản được ban hành: 18 Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định về việc ban hành Định hướng chiến lược về phát triển bên vững ở Việt Nam, đã chỉ rõ mục tiêu của phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên. Năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường xuất bản cuốn Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, trong đó đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu và các nội dung cơ bản bảo vệ môi trường, các giải pháp và việc tổ chức thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường ở nước ta.2005, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ môi trường, thay thế Luật bảo vệ môi trường năm 1993, gồm 134 điều, 14 chương. Đây là những chuẩn mực quan trọng hàng đầu để bảo vệ môi trường, quy định những hành vi bảo vệ môi trường cần được thực hiện ở nước ta hiện nay.
Năm 2011, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khăng định: Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trỊ, của toàn xã hội và nghĩa vụ của mọi công dân. Kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát, ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch. Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên.
Quản lý, bảo vệ, tái tạo và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quôc gia. Ngày 12/12/2012, Bộ tài nguyên môi trường tô chức lễ công bố “Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020 và tam nhìn đến năm 2030”. Mục tiêu của chiên lược là kiêm soát, hạn chê và đên năm 2030 cơ bản ngăn 19 chặn và đây lùi xu hướng gia tăng ô nhiễm. Chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức do khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường.
Những thách thức đó đòi hỏi chúng ta phải thay đổi nhận thức về mô hình phát triển thiếu bền vững hiện nay để chuyên sang mô hình phát triển bền vững hơn nhằm giảm thiểu những tác động lên môi trường, tài nguyên thiên nhiên. Khuyến khích đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu nhăm tạo ra việc làm, thu nhập, thúc đây tăng trưởng đã và đang trở thành một xu thế chủ đạo trên phạm vi toàn cầu. Từ khi thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế, cùng với những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội, công tác bảo vệ môi trường, chính sách của Đảng, Nhà nước được xây dựng, hoàn thiện, phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những thách thức lớn về môi trường, cụ thể là ô nhiễm môi trường đang tiếp tục gia tăng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, sử dụng thiếu hiệu quả; đa dạng sinh học bị suy giảm, biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường.
Hiến pháp năm 2013, xuất bản năm 2014, Điều 63 quy định: Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích các hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại. Năm 2013, Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 24- NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài 20 nguyên và bảo vệ môi trường.
Đây là Nghị quyết đầu tiên đề cập toàn diện đến chủ trương, giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đây mạnh công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; có ý nghĩa đặc biệt quan trọng định hướng cho công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta trong thời gian tới, quyết định đến sự phát triên bên vững của đât nước.