phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án được trình bày trong 4 chương, 12 tiết. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI 1. Những công trình liên quan tới điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa, tiền đề tƣ tƣởng cho sự ra đời của triết học lịch sử của G.Hegel Triết học nói chung và đặc biệt triết học lịch sử nói riêng có liên hệ mật thiết với những điều kiện kinh tế, xã hội - chính trị và văn hóa ở thời nhà triết học sinh sống. Triết học lịch sử G.Hegel không phải là ngoại lệ; nó chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và văn hóa của nước Phổ vào đêm trước cuộc cách mạng tư sản.
Trong luận án tiến sĩ “Vấn đề bản thể luận trong triết học duy tâm cổ điển Đức cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX” (2010) của mình, Nguyễn Chí Hiếu đã khẳng định điều này: Triết học lịch sử Hegel… ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử rất đặc biệt và đầy mâu thuẫn… do thiếu vắng các điều kiện cho sự hình thành nhà nước, nên nhà nước đã buộc phải tạo dựng xã hội theo các nhu cầu của nó. Và như vậy, đã xuất hiện một bộ máy cai trị khá hoàn hảo trong lịch sử mà khả năng tổ chức và bộ máy quyền lực vượt xa các nước láng giềng, mang lại sự thành công của mô hình nhà nước Phổ [25, tr. Theo sự phân tích của tác giả, mô hình nhà nước Phổ đã phải dựa trên một hình thức đạo đức đặc biệt được biết nhiều đến dưới cái tên "tinh thần Phổ" (preussischer Geist) huyền thoại. Một mặt, nó tạo ra những giá trị văn hoá tích cực cho con người Phổ như: duy lý, đề cao lôgíc, lạc quan, tiết kiệm, khiêm tốn, trung thực, chăm chỉ và khoan dung, v.
nhưng, mặt khác, nó cũng mang lại những mặt tiêu cực như: chủ nghĩa quân phiệt, chủ nghĩa đế quốc hiếu chiến và nền chính trị phản dân chủ, phản động. Có thể nói, những giá trị văn hoá tích cực và tiêu cực này đóng vai trò quyết định sự hình thành "tinh thần Đức", "tính cách Đức" nổi tiếng của người Đức sau này. Cho dù còn nhiều tranh luận, nhưng đa số các nhà nghiên cứu đều nhất trí rằng, phải đến giữa thế kỷ XIX, “thời đại công nghiệp” mới bắt đầu tại Đức… Giai cấp tư sản Đức không thống nhất, chỉ luôn là giai cấp yếu hèn và nhút nhát, do nước Đức bị chia rẽ ra làm nhiều lãnh địa. Nó muốn nước Đức cũng áp dụng những cải cách tư sản đã được thực hiện ở bên kia bờ sông Ranh, nhưng lại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sẵn sàng thỏa mãn ngay với những cải cách nửa vời mà tầng lớp quý tộc thống trị đem thi hành ở một vài địa phương của nước Đức.
Khi thừa nhận sự cần thiết phải có những cải cách xã hội và kinh tế căn bản, các nhà triết học duy tâm Đức lại chống đối con đường cách mạng thực hiện những cải cách ấy. Thái độ phản đối dùng con đường cách mạng để cải cách nước Đức theo lối tư sản là một trong những đặc điểm chủ yếu của những quan điểm xã hội của các nhà triết học tư sản Đức [xem: 25, tr. Tư tưởng triết học lịch sử của G.Hegel nói riêng và triết học cổ điển Đức nói chung đều đã chịu ảnh hưởng của Cách mạng công nghiệp Anh và Cách mạng tư sản Pháp. Vấn đề này đã được C.
Ăngghen phân tích trong nhiều tác phẩm. Đặc biệt Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh điều này trong tác phẩm Tình cảnh nước Anh. Thế kỷ mười tám [49, tr.826-852]: “Người Đức,… đã trải qua cuộc cách mạng triết học; người Pháp,… đã phải thực hiện cuộc cách mạng trên con đường chính trị” [49, tr. Cách mạng tư sản Pháp đã làm cho chủ đề “tự do” trở thành một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng triết học lịch sử cổ điển Đức nói chung và triết học lịch sử của Hegel nói riêng [17, tr.
Trong Luận án tiến sĩ “Đạo đức học Kant và ý nghĩa hiện thời của nó”, Vũ Thị Thu Lan phân tích những đặc điểm quan trọng của văn hóa Tây Âu cận hiện đại, mà nổi bật là sự lên ngôi của chủ nghĩa duy lý, tệ sùng bái lý tính khoa học, quan niệm về văn hóa như “giới tự nhiên thứ hai” được xây dựng bởi con người, sự đề cao thái quá tính tích cực, sức mạnh sáng tạo của con người đối với thế giới, coi phương tiện cơ bản để hoàn thiện xã hội và con người là phổ biến tri thức, khoa học, là khai sáng và kỳ vọng định hướng vào việc cải tạo xã hội theo sơ đồ vạch sẵn. Tất cả những đặc điểm đó đều đã có ảnh hưởng đáng kể đến tư duy triết học lịch sử của G. Về các tiền đề tư tưởng cho sự ra đời của triết học lịch sử của G.Hegel, có thể nói, vốn là một nhà nghiên cứu lịch sử triết học uyên bác, G.Hegel không thể không hiểu tường tận lịch sử tư tưởng triết học lịch sử trước ông, nói cách khác, tư tưởng triết học lịch sử trước G.Hegel chính là những tiền đề lý luận cho sự hình thành bản thân triết học lịch sử G. Đến lượt mình, để 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm sáng tỏ vấn đề này, cần có khái niệm chung về “triết học lịch sử” qua một số nội dung cơ bản của nó.
Trong lời giới thiệu cho cuốn sách Nhận thức lịch sử của A. Phong Lê cho rằng, vì triết học lịch sử gắn liền với quan niệm về thời gian lịch sử, nên tư tưởng triết học lịch sử chỉ bắt đầu xuất hiện ở thời trung cổ [82, tr. Trong cuốn Đại cương lịch sử triết học phương Tây trước Mác (2006), nhóm các tác giả Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh cũng đưa ra luận điểm tương tự: Triết học lịch sử nghiên cứu những vấn đề gắn liền với ý nghĩa và mục đích của lịch sử xã hội, với các nguyên nhân vận động của nó. Lịch sử đi về đâu và tại sao nó diễn ra - đó là vấn đề cơ bản của triết học lịch sử.
Triết học lịch sử liên quan mật thiết với triết học xã hội nhưng nó chú ý nhiều đến các thành tố biến đổi và phát triển của xã hội [31, tr. Quay lại với lịch sử tư tưởng triết học lịch sử trước G.Hegel, trong cuốn sách Lịch sử triết học đại cương, tác giả Đỗ Minh Hợp cũng khẳng định rằng, tư tưởng triết học lịch sử lần đầu tiên được Thánh Augustino đưa ra. Có thể coi ông là người sáng lập ra triết học lịch sử, người lần đầu tiên đã nêu ra ba nguyên lý cơ bản của nó là: nguyên lý về số phận thống nhất của loài người trong lịch sử (sau này được biểu thị thông qua khái niệm về tiến trình lịch sử toàn cầu); nguyên lý về sự thống nhất - toàn vẹn và kế thừa của tiến trình lịch sử trong thời gian, đây là nguyên lý về quá trình hiện thực hóa dần dần chủ ý (mục đích chung) tối cao của lịch sử là tự do; nguyên lý về trách nhiệm lịch sử của con người, theo đó sự lựa chọn và hành vi của con người có ảnh hưởng tới chất lượng của tiến trình lịch sử [35, tr. Thực chất quan niệm triết học lịch sử của Augustino được tác giả cuốn sách nêu trên trình bày như sau: Lịch sử không phải trong một chu trình khép kín (“sự lặp lại vĩnh cửu” ở các nhà tư tưởng cổ đại) mà trong quá trình vận động tiến tới sự hoàn thiện đạo đức tối đa, khi mà con người sẽ ở vào thế không thể phạm tội.
Mục đích của lịch sử là tiến bộ đạo đức. Đứng đằng sau sự hỗn loạn của cuộc sống trần tục, đằng sau những bi kịch và bất công của nó là quá 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình hoàn thiện đạo đức vô hình của loài người. Quá trình này diễn ra một cách liên tục, bất chấp mọi dích dắc và bước quanh co kỳ quặc của lịch sử. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống trần tục, nó xuất hiện do sự thỏa thuận của nhiều người hợp nhất lại với nhau vì các mục đích xác định.
Nhà nước tuyệt đối công bằng là hoàn toàn không thể có ngay được, nó được hoàn thiện dần dần [35, tr. Cũng trong cuốn Lịch sử triết học đại cương nêu trên, tác giả Đỗ Minh Hợp trình bày quan điểm triết học lịch sử độc đáo của Leibniz như sau: quan niệm thế giới loài người là một bộ phận nhỏ bé của vũ trụ và là một khoảnh khắc ngắn ngủi của lịch sử, con người đã hiểu sai về “thế giới tốt nhất” là thế giới chỉ cấu thành từ những điều tốt đẹp, thiện, dễ chịu, v. Những thoả mãn kéo dài mà con người nhận được từ cuộc sống, sẽ nhanh chóng bóp chết bản tính người. Cần phải chịu đựng bất hạnh, cần phải được thử thách, khi buộc phải lao vào sự đối đầu giữa cái thiện và cái ác, giữa sung sướng và đau khổ, giữa cái đẹp và cái xấu thì nhân cách của con người sẽ trở nên đẹp và hài hoà hơn.
Đau khổ là con đường ngắn nhất dẫn tới hạnh phúc. Việc phân biệt giữa cái ác và cái thiện còn quan trọng theo nghĩa nó làm nổi bật sự cần thiết và tầm quan trọng của tự do con người. Nhưng tự do lớn nhất được mở ra cho con người trong hành động tự giác, với tư cách một thực thể có lý tính. Lý tính chế ngự con người một khi con người còn sử dụng lý tính của mình.
Luận điểm này đóng vai trò xuất phát điểm cho nhiều quan điểm triết học lịch sử ở thời Khai sáng [xem: 35, tr. Cuốn sách nêu trên cũng cho biết, Voltaire - người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “triết học lịch sử” trong tác phẩm cùng tên (1765) - đã có đóng góp quan trọng vào việc loại bỏ luận điểm về sự can thiệp trực tiếp của Chúa vào đời sống con người. Theo ông, chính con người làm ra lịch sử của mình. Ông quan niệm sự phát triển của nhân loại là quá trình vận động từ tồn tại vô thức đến xây dựng cơ cấu xã hội có ý thức, đến văn minh Khai sáng.
Theo Voltaire, động lực của lịch sử là đấu tranh ý kiến, và con người hoạt động hoàn toàn theo ý kiến của họ [35, tr.