Luận án TS: Tổ chức bộ máy Ban Quản lý Khu Kinh tế Đặc biệt cấp tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Tìm hiểu tổ chức bộ máy ban quản lý khu kinh tế đặc biệt tỉnh phía Nam. Khám phá cơ cấu quản trị, chức năng và vai trò trong phát triển kinh tế địa phương.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

262
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan tổ chức bộ máy ban quản lý khu kinh tế đặc biệt cấp tỉnh

Khu kinh tế đặc biệt (KKTĐB) là vùng lãnh thổ có ranh giới địa lý xác định, được thành lập với mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Tổ chức bộ máy ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh đóng vai trò then chốt trong việc điều hành hoạt động của khu vực này. Theo luận án của Mai Hữu Bốn (2017), bộ máy quản lý phải đảm bảo nguyên tắc tinh gọn, hiệu quả, đồng thời có đủ thẩm quyền để xử lý các vấn đề phát sinh. Vùng kinh tế trọng điểm phía nam bao gồm nhiều tỉnh thành có tiềm năng phát triển mạnh. Các KKTĐB tại vùng này đòi hỏi mô hình quản lý phù hợp với đặc thù kinh tế, xã hội địa phương. Kinh nghiệm quốc tế từ các nước như Trung Quốc, UAE, Singapore cho thấy mô hình quản lý KKTĐB cần có tính tự chủ cao. Cơ chế một cửa, đơn giản hóa thủ tục hành chính là yếu tố quyết định hiệu quả thu hút đầu tư. Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện khung pháp lý cho việc thành lập và quản lý KKTĐB.

1.1. Khái niệm và đặc điểm khu kinh tế đặc biệt

Khu kinh tế đặc biệt là đơn vị kinh tế được thành lập trên cơ sở quy hoạch tổng thể, có ranh giới địa lý rõ ràng và cơ chế quản lý riêng biệt. KKTĐB được phân loại thành nhiều dạng: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu thương mại tự do và thành phố kinh tế đặc biệt. Mục tiêu chính bao gồm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng. Mỗi loại hình có đặc điểm riêng về quy mô, ngành nghề ưu tiên và chính sách khuyến khích. Tại Việt Nam, việc phân loại KKTĐB theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức quản lý.

1.2. Cơ sở pháp lý và mô hình quản lý quốc tế

Cơ sở pháp lý về KKTĐB được xây dựng từ hai dạng văn bản chính. Dạng thứ nhất là luật riêng quy định tổng thể về loại hình, tiêu chuẩn thành lập và cơ chế quản lý. Trung Quốc áp dụng mô hình Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho từng KKTĐB cụ thể. Dạng thứ hai là văn bản dưới luật của Chính phủ quy định chi tiết các yêu cầu thành lập. Việt Nam đang theo mô hình thứ hai. Kinh nghiệm các nước trong vùng MENA cho thấy khuôn khổ chính sách đối xử bình đẳng giữa nhà đầu tư trong và ngoài nước, áp dụng cơ chế thuế linh hoạt và đơn giản hóa thủ tục là yếu tố then chốt để KKTĐB hoạt động hiệu quả.

II. Phân tích thực trạng tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB phía nam

Thực trạng tổ chức bộ máy ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía nam bộc lộ nhiều bất cập cần được phân tích kỹ lưỡng. Thứ nhất, mô hình tổ chức còn phân tán, thiếu sự thống nhất giữa các tỉnh thành trong vùng. Mỗi địa phương áp dụng mô hình quản lý khác nhau, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong chính sách thu hút đầu tư. Thứ hai, thẩm quyền của ban quản lý bị hạn chế, nhiều quyết định phải xin ý kiến cấp trên, gây chậm trễ trong xử lý hồ sơ. Thứ ba, nguồn nhân lực chuyên môn cao còn thiếu hụt, đặc biệt trong lĩnh vực xúc tiến đầu tư quốc tế và quản lý dự án. Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa ban quản lý và các sở ngành địa phương chưa hiệu quả. Tình trạng chồng chéo chức năng, nhiệm vụ xảy ra thường xuyên. Nguồn tài chính cho hoạt động quản lý cũng là thách thức lớn khi nhiều KKTĐB chưa đạt hiệu quả kinh tế như kỳ vọng.

2.1. Hạn chế về thẩm quyền và cơ chế phối hợp

Thẩm quyền của ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh hiện nay bị giới hạn trong nhiều lĩnh vực quan trọng. Quyết định cấp phép đầu tư, phê duyệt quy hoạch chi tiết và giải quyết tranh chấp thường phải thông qua nhiều cấp phê duyệt. Cơ chế phối hợp giữa ban quản lý với các sở Kế hoạch Đầu tư, Xây dựng, Tài nguyên Môi trường còn nhiều vướng mắc. Chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm hoặc tranh giành quyền hạn. Điều này làm giảm hiệu quả quản lý và tạo rào cản cho nhà đầu tư.

2.2. Thách thức về nguồn nhân lực và tài chính

Nguồn nhân lực tại các ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh đang đối mặt với nhiều thách thức. Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, am hiểu pháp luật quốc tế và kỹ năng ngoại ngữ còn hạn chế. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa được đầu tư đúng mức. Về tài chính, nhiều KKTĐB phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, chưa tạo được cơ chế tự chủ tài chính. Nguồn thu từ phí dịch vụ, cho thuê đất chưa đủ để trang trải chi phí vận hành. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phục vụ nhà đầu tư và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý.

III. Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức ban quản lý KKTĐB

Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ và có tính hệ thống. Trước hết, cần xây dựng mô hình tổ chức thống nhất cho các KKTĐB trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Mô hình này phải đảm bảo tính tinh gọn, chuyên nghiệp và có đủ thẩm quyền để xử lý công việc. Thứ hai, áp dụng cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính cho nhà đầu tư. Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng giữa ban quản lý và các cơ quan liên quan. Thứ tư, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ năm, phát triển cơ chế tự chủ tài chính cho ban quản lý. Các giải pháp cần được triển khai theo lộ trình cụ thể, có sự tham gia của các chuyên gia trong và ngoài nước. Kinh nghiệm từ các đặc khu kinh tế thành công trên thế giới là nguồn tham khảo quý giá.

3.1. Xây dựng mô hình tổ chức tinh gọn hiệu quả

Mô hình tổ chức ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh cần được thiết kế theo nguyên tắc tinh gọn, giảm tối đa các cấp trung gian. Ban quản lý nên được tổ chức thành các phòng ban chuyên môn theo chức năng: xúc tiến đầu tư, quản lý quy hoạch, giải quyết thủ tục hành chính và hỗ trợ doanh nghiệp. Mỗi phòng ban có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, không chồng chéo. Mô hình nên tham khảo kinh nghiệm từ Ban quản lý Khu công nghệ cao Hòa Lạc hoặc các đặc khu kinh tế của Singapore. Cơ chế tuyển dụng nhân sự cần linh hoạt, thu hút được người có năng lực thực sự.

3.2. Nâng cao thẩm quyền và cơ chế tự chủ

Việc nâng cao thẩm quyền cho ban quản lý KKTĐB là giải pháp then chốt để tăng hiệu quả quản lý. Ban quản lý cần được trao quyền quyết định trong các lĩnh vực: cấp phép đầu tư, phê duyệt quy hoạch, giải quyết tranh chấp và quản lý đất đai. Cơ chế tự chủ tài chính nên được xây dựng dựa trên nguồn thu từ phí dịch vụ, cho thuê hạ tầng và tỷ lệ phần trăm thuế thu nhập từ doanh nghiệp trong khu. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả để tránh lạm quyền. Nghị định 29/2008/NĐ-CP và các văn bản liên quan cần được sửa đổi để tạo hành lang pháp lý đầy đủ.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn mô hình quản lý KKTĐB

Luận án tiến sĩ về tổ chức bộ máy ban quản lý KKTĐB cấp tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía nam đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng mô hình quản lý hiện tại còn nhiều bất cập, cần được cải cách toàn diện. Các giải pháp đề xuất bao gồm: xây dựng mô hình tổ chức thống nhất, nâng cao thẩm quyền ban quản lý, phát triển nguồn nhân lực và cơ chế tài chính tự chủ. Ứng dụng thực tiễn của luận án thể hiện ở việc đề xuất mô hình quản lý cụ thể cho các tỉnh trong vùng. Mô hình này có thể áp dụng thí điểm tại một số KKTĐB trước khi nhân rộng. Đóng góp lý luận của luận án là khung lý thuyết về tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đóng góp thực tiễn là các kiến nghị chính sách cụ thể, có tính khả thi cao cho các cơ quan quản lý nhà nước.

4.1. Đóng góp lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án đã đóng góp vào kho tàng lý luận về quản lý công với khung lý thuyết về tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB cấp tỉnh. Khung lý thuyết này tích hợp các yếu tố: mô hình tổ chức, cơ chế vận hành, nguồn lực con người và tài chính. Về thực tiễn, luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng Nghị định mới về KKTĐB. Các đề xuất cụ thể về cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ và cơ chế phối hợp có thể được áp dụng trực tiếp. Nghiên cứu cũng chỉ ra các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của ban quản lý.

4.2. Định hướng phát triển và kiến nghị chính sách

Định hướng phát triển KKTĐB trong thời gian tới cần gắn với chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các kiến nghị chính sách bao gồm: ban hành luật riêng về KKTĐB, xây dựng mô hình quản lý thống nhất trong vùng và tăng cường hợp tác quốc tế. Chính phủ cần sớm phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống KKTĐB quốc gia. Các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam nên thành lập liên minh KKTĐB để chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực. Đào tạo nguồn nhân lực quản lý KKTĐB cần được đưa vào chương trình đào tạo công chức cấp chiến lược.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ tổ chức bộ máy ban quản lý khu kinh tế đặc biệt cấp tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến tổ chức bộ máy quản lý Khu Kinh tế đặc biệt 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Tổ chức bộ máy KKTĐB đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới và trở nên phổ biến từ những năm 1960 của thế kỷ thứ 20. Có nhiều công trình nghiên cứu phong phú và đa dạng về tổ chức bộ máy quản lý KKTĐB, có thể kể đến một số nghiên cứu gần đây và kết luận của các nghiên cứu sau: Theo Christina Hirche (2007), trong bài giới thiệu về KCN ở Trung Quốc, trên tạp chí Achem Asia, theo đó KCN ở Trung Quốc chia thành ba cấp: Trung ương, tỉnh và cấp địa phương.

Các KCN cấp quốc gia là loại hình thu hút nhiều đầu tư nước ngoài nhất. Đồng thời, mô hình quản lý KCN cũng tạo cơ hội thuận lợi cho các nhà đầu tư. Ở Trung Quốc hiện áp dụng hai mô hình quản lý: mô hình Ủy ban hành chính lồng ghép và mô hình Ủy ban hành chính tự quản và công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN. Trong mô hình thứ nhất, Ủy ban hành chính chịu trách nhiệm quản lý chung tất cả các vấn đề gắn với KCN; trong mô hình thứ hai, những vấn đề liên quan đến cung cấp dịch vụ, tiện ích; sắp xếp vị trí cho các công ty do công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN đảm nhận.

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư vào các KCN là những hoạt động đầu tư mới, về nguyên tắc, cơ quan QLNN tương ứng sẽ quy định những điều kiện thực hiện. Do đó, công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN chỉ đóng vai trò thực hiện. Các KCN chia thành khu phát triển công nghiệp và kinh tế không bao gồm các ngành công nghiệp nặng. KCN gắn với phát triển công nghiệp công nghệ cao và mới nhằm thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao.

Tuy nhiên, tác giả không giới thiệu chi tiết hai mô hình quản lý nêu trên. 11 Còn theo nghiên cứu của Yannick Saleman và Luke Jordan (2013), trong nghiên cứu chung về KKTĐB (special econmic zones – SEZ), theo đó đã không trình bày mô hình nào cụ thể về KCN. Tuy nhiên các tác giả lại phân tích cách tiếp cận về các bên có liên quan đến sự thành công của KCN. Các tác giả thừa nhận tính hấp dẫn về lý thuyết của mô hình KCN.

Tuy nhiên, trên thực tế mô hình hấp dẫn đó phụ thuộc vào cách thức mà các bên tham gia vào hoạt động của KCN. Mô hình quản lý mà các tác giả phân tích chính là vai trò của nhà nước khi tạo nên những điều kiện hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư. Vì vậy, KCN hay tên gọi chung là KKTĐB đòi hỏi phải có tính đặc biệt. Khi tạo ra KKTĐB, các bên có liên quan phải xác định cụ thể vai trò của họ.

Theo các tác giả, mô hình KKTĐB vận hành dựa trên nguyên tắc giải quyết 9 vấn đề: - Chọn địa điểm; - Xác định đòi hỏi hiện tại và tiềm năng; - Thủ tục mua, bán đất; - Thiết kế hay kế hoạch tổng thể ; - Cơ cấu tài chính và kế hoạch tài chính; - Mua các cơ sở hạ tầng; - Xây dựng hạ tầng; - Vận hành và duy tu; - Giám sát và đánh giá. Tất cả 9 vấn đề đó phải được chia sẻ trách nhiệm, nhiệm vụ giữa các chủ thể có liên quan: - Chính phủ Trung ương; - Chính quyền địa phương; - Các tổ chức khu vực tư nhân. Như vậy, để quản lý hiệu quả cần xác định rõ sự tham gia của các bên, trong đó, vai trò của nhà nước rất quan trọng. Theo nhóm tác giả, do các mô 12 hình quản lý không đạt được sự phân định nên có thể tạo ra: - Mục tiêu không rõ; - Địa điểm không phù hợp; - Đầu tư vào hạ tầng không đủ; - Năng lực thực hiện hạn chế và không đủ quyền hạn; - Thiếu sự hỗ trợ của cấp cao hơn hoặc thiếu bền vững.

Hệ quả của mô hình quản lý có thể tạo nên các KCN được phê duyệt, nhưng hoạt động kém: - Không được xây dựng đủ hạ tầng; - Được xây dựng nhưng đáp ứng nhu cầu thấp của doanh nghiệp; - Chỉ thu hút được lĩnh vực hẹp; - Xây dựng, khai thác tốt nhưng không có tác động tích cực đối với vùng lận cận KKTĐB như mong muốn. Tuy nhiên, tác giả không cho biết mô hình quản lý cụ thể bao gồm những yếu tố gì. Các nội hàm khoa học về tổ chức bộ máy quản lý không được nêu rõ về hình thức cũng như mô hình quản lý. Hauthal and Tiina Salonen (2007), trong nghiên cứu về các KCN của Trung Quốc đã giới thiệu về mô hình hai KCN của Trung Quốc: Khu phát triển công nghệ và kinh tế Thiên Tân (The Tianjin Economic and Technological Development Area TEDA) và KCN hóa chất Thượng Hải (Shanghai Chemical Industry Park SCIP).

Cả hai KCN đều tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình Ủy ban hành chính tự quản và công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN. Theo các tác giả, tại Thiên Tân, Công ty trách nhiệm hữu hạn TEDA chịu trách nhiệm về bất động sản (đất đai), phát triển hạ tầng; cung cấp các dịch vụ như điện, nước sạch, nước thải; gas; các hoạt động liên quan đến xử lý nước thải, rác thải. Mô hình quản lý KCN của Thượng Hải cũng có tên gọi giống như của Thiên Tân. Ủy ban hành chính có trách nhiệm phê duyệt các dự án đầu tư và 13 phối hợp hoạt động sản xuất, kinh doanh giữa chính quyền thành phố với KCN hóa chất Thượng Hải và Công ty đầu tư phát triển KCN.

Các hoạt động đòi hỏi phối hợp liên quan đến KCN như: phát triển và xây dựng hạ tầng; cung cấp dịch vụ điện, nước; xử lý chất thải và mua bán đất. Công ty đầu tư phát triển KCN là công ty nhà nước và tất cả các công ty đóng trên địa bàn lãnh thổ của KCN đều là thành viên của công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN. Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN liên doanh với nhiều công ty trong và ngoài nước để xây dựng hạ tầng; khai thác hạ tầng cũng như xử lý chất thải. Còn trong nghiên cứu về khu công nghiệp Trung Quốc – Singapore (Shuzhou Industrial Park), HanMinli (2008) đã giới thiệu mô hình quản lý một trong những KCN có những thành tích nhất định của Trung Quốc.

KCN Trung Quốc - Singapore [85, tr26-30]. Quản lý KCN này cấu thành từ bốn nhóm yếu tố: - Hội đồng chỉ đạo chung Singapore - Trung Quốc. Đây là cơ quan nhà nước cấp cao quản lý KCN. Hội đồng do 2 Phó Thủ tướng Chính phủ của hai nước đứng đầu; - Ủy ban công tác chung Singapore – Trung Quốc; - Ủy ban hành chính KCN; - Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN Singapore – Trung Quốc.

Cơ quan thứ hai chỉ mang tính định hướng do Thị trưởng Tô Châu và Chủ tịch Hội đồng phát triển kinh tế Singapore đồng chủ trì. Ủy ban sẽ giải quyết những vấn đề bức xúc trực tiếp của KCN. Hai bộ phận chịu trách nhiệm quản lý KCN là Ủy ban hành chính và Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN. Ủy ban hành chính là cơ quan của chính quyền địa phương Trung Quốc chịu trách nhiệm tất cả các vấn đề mang tính pháp lý để đầu tư vào KCN.

Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN là công ty liên doanh giữa nhiều công ty của Singapore và Trung quốc để phát triển hạ tầng. 14 Còn theo Leonard Sahling (2008), trong nghiên cứu về KKTĐB và công viên công nghệ quốc gia của Trung Quốc đã giới thiệu về cách hình thành KKTĐB, các KCN quốc gia của Trung Quốc (National Industrial Parks). Sự đóng góp của KKTĐB và các KCN quốc gia là rất lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Mô hình quản lý các KCN quốc gia thống nhất theo Ủy ban quản lý (management committee), đó là cánh tay nối dài của chính quyền địa phương (cấp vùng hay cấp tỉnh); đồng thời, mỗi một KCN quốc gia có một Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN.

Nhiệm vụ chính của các Công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN là tạo ra những điều kiện hấp dẫn nhất về hạ tầng cũng như cung cấp dịch vụ (bên cạnh những chính sách khác của chính quyền) để thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhằm lấp đầy các KCN. Ủy ban Quản lý chịu trách nhiệm quản lý các vấn đề liên quan trực tiếp đến KCN. Nhiệm vụ chủ yếu gồm: - Xem xét việc cung cấp dịch vụ cộng đồng như: cảnh sát, cứu hỏa; thu gom rác thải cho các doanh nghiệp trong KCN; - Chuẩn bị và quản lý báo cáo tài chính của KCN nhằm duy trì tình trạng tài chính đúng, đủ; - Điều hành, quản lý đất của KCN; hoàn thiện hạ tầng, lập kế hoạch tổng thể và cấp phép xây dựng; - Quản lý lao động nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động trong KCN. Tác giả chỉ ra rằng, các KCN quốc gia không chỉ cạnh tranh với nhau trong việc thu hút đầu tư trực tiếp vào KCN của mình mà còn phải cạnh tranh với cả các KCN của địa phương (tỉnh và cấp thấp hơn).

Hoạt động của các KCN địa phương thường chịu nhiều rủi ro và chịu sự quản lý của Chính phủ Trung ương nên trên thực tế, các doanh nghiệp nước ngoài thường chọn KCN quốc gia hơn là của địa phương. Các Ủy ban Quản lý thường phải cạnh tranh để có thể hoàn thiện việc cung cấp dịch vụ, hạ tầng nhằm thu hút đầu tư của 15 các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài; và tùy theo mức độ cạnh tranh và sự cho phép của Chính phủ Trung ương, các KCN quốc gia có thể mở rộng phạm vi hoạt động ngoài địa giới của KCN. Nhóm tác giả trình bày tại Hội thảo“mô hình quản lý khu công nghiệp nhằm hướng đến thành công” [88, tr.10-17], nhấn mạnh tính đặc thù của từng KCN của từng nước và ngay cả trong một quốc gia nên không có mô hình quản lý KCN nào là phù hợp cho tất cả các loại KCN. Cần phải có đánh giá cụ thể, đòi hỏi và chấp nhận mô hình quản lý KCN phù hợp với điều kiện của từng vùng.

KCN phải được lồng ghép chung với khuôn khổ đổi mới của vùng. KCN đòi hỏi sự tham gia một cách tích cực của các thành viên có liên quan và mỗi một thành viên phải đảm nhận những chức năng nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ