Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong những năm trở lại đây, đã có nhiều bài viết, tài liệu cũng như các nghiên cứu của Việt Nam và thế giới về thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nói chung và xuất khẩu hàng nông sản nói riêng. Cụ thể như sau: 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Nhóm những công trình nghiên cứu về lý luận thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản 1.
Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò của thúc đẩy xuất khẩu nông sản Rất nhiều các nghiên cứu chỉ ra thúc đẩy xuất khẩu nông sản có vai trò lớn tới phát triển kinh tế của quốc gia, đặc biệt với những nước có lợi thế về sản xuất nông nghiệp. Dudensing, and Harry M. Kaiser (2017) cho rằng thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản có những tác động tích cực đối với nền kinh tế. Các tác giả đã phân tích về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản và phúc lợi sản xuất của Hoa Kỳ, chỉ ra những tác động tích cực đến nền kinh tế khi được đo lường các thay đổi trong GDP và việc làm.
Từ đó, các tác giả cho khẳng định sự cần thiết phải xây dựng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản bởi Hoa Kỳ là một quốc gia có lợi thế về sản xuất nông sản [92]. Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (2018) cho rằng chế biến nông sản và xuất khẩu hàng hoá nông sản là một lĩnh vực quan trọng. Sản lượng xuất khẩu hàng hoá nông sản của Ấn Độ trên toàn cầu đang tăng đều đặn. Nông nghiệp Ấn Độ hiện nay vẫn là xương sống của xã hội, cung cấp sinh kế cho gần 50% dân số.
Vì vậy, thúc đẩy xuất khẩu nông sản không chỉ mang lại cơ hội tăng thu nhập lớn cho nền kinh tế mà còn giải quyết nhiều công ăn việc làm trong nước [84]. Sanjuan Lopez và Dawson (2010) đã chứng minh XKNS góp phần vào tăng trưởng kinh tế của các nước kém phát triển thông qua việc xây dựng mô hình định lượng về mối quan hệ giữa hệ số co dãn XKHHNS với GDP [138]. Nguyễn Thị Đường (2012) lại cho rằng thúc đẩy XKHHNS tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Đồng thời, hoạt động này cũng có vai trò phát triển sản xuất trong nước, nhất là ở các quốc gia dựa vào nông nghiệp [15].
14 Ngoài vai trò đóng góp giá trị gia tăng cho nền kinh tế làm tiền đề phát triển, Ngô Thị Mỹ (2016) còn bổ sung thêm vai trò của thúc đẩy XKHHNS là tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sử dụng hiệu quả nguồn lực, phát huy lợi thế so sánh, tạo việc làm, nâng cao mức sống người dân, tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế cũng như góp phần tăng cường hợp tác kinh tế quốc tế với phần còn lại của thế giới, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và phân công lao động quốc tế [42]. Tuy nhiên, Faridi (2012) lại cho rằng không phải quốc gia nào thúc đẩy XKHHNS cũng đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Vai trò của thúc đẩy XKHHNS còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nó chỉ thực sự tích cực khi quốc gia có lợi thế về sản xuất nông nghiệp, đáp ứng điều kiện xuất khẩu mà thị trường thế giới đặt ra [89]. Nhóm công trình nghiên cứu về nội dung thúc đẩy xuất khẩu nông sản Trong mỗi nghiên cứu được công bố, nội dung về thúc đẩy XKHHNS được đề cập có thể khác nhau, tuy nhiên, những nội dung thường được thấy bao gồm: Thứ nhất, Chính phủ cần xây dựng một chiến lược tổng thể để làm cơ sở cho XKHHNS.
Theo nghiên cứu của Guillermo Donoso (2016) cụ thể tại Chile, việc xây dựng chiến lược tiếp cận thị trường thế giới đã giúp đất nước này dễ dàng đưa HHNS của mình sang nhiều quốc gia. Chile với những lợi thế của mình trong sản xuất hàng nông sản đã được Chính phủ xác định rõ chiến lược tiếp cận thị trường thế giới bằng việc xây dựng 14 văn phòng tại Chile và 59 văn phòng xúc tiến thương mại tại 38 nước để phát triển thị trường nông sản xuất khẩu tới việc thiết lập các ưu tiên thông qua sự kết hợp phân tích thị trường và hợp tác với các hiệp hội ngành [100]. Nghiên cứu của Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (2018) thì cho rằng Ấn Độ cần có chiến lược định hướng nông dân để đạt được mục tiêu song song là an ninh lương thực và là nhà xuất khẩu nông nghiệp nổi tiếng của thế giới [84]. 15 Chiến lược XKHHNS còn được thể hiện cụ thể bởi các chiến lược cụ thể trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản.
Năng lực cạnh tranh của hàng hoá nông sản trước hết dựa vào việc khai thác lợi thế so sánh của các mặt hàng [29]. Các tác giả như Nguyễn Đình Long, Nguyễn Tiến Mạnh và Nguyễn Võ Định (1999) đã phân tích sâu hơn và cho rằng những yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh của nông sản Việt Nam phải là: chất lượng sản phẩm, khối lượng sản phẩm, kiểu dáng mẫu mã, uy tín của sản phẩm, môi trường kinh tế vĩ mô và giá thành sản phẩm [29]. Tương tự, Ngô Thị Tuyết Mai (2007) cũng cho rằng chiến lược nâng cao sức cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập là điều kiện để thúc đẩy XKHHNS Việt Nam ra thế giới. Cụ thể, để thúc đẩy XKHHNS cần có chiến lược nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, phát triển thị trường xuất khẩu, phát triển thương hiệu, về tổ chức mạng lưới tiêu thụ [32].
Báo cáo khoa học của Nguyễn Đình Long (2001) thì phân tích những đặc điểm và đưa ra những chỉ tiêu về lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ chốt của Việt Nam như gạo, cà phê, cao su, chè và điều, bao gồm các chỉ tiêu về định tính như chất lượng và độ an toàn trong sử dụng, quy mô và khối lượng, kiểu dáng và mẫu mã sản phẩm, phù hợp thị hiếu và tập quán tiêu dùng, giá thành. và các chỉ tiêu định lượng như: mức lợi thế so sánh (RCA), chi phí nguồn lực nội địa (DRC) [30]. Bài viết của Nguyễn Thị Tú (2004) đã đề cập đến việc xây dựng chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản về chất lượng sản phẩm, giá sản phẩm, xúc tiến thương mại để đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam vào thị trường Mỹ [65]. Hay Đặng Vũ Thanh Bình (2005) thì cho rằng việc chú đa dạng hóa sản phẩm, bảo đảm chất lượng sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của Nhật Bản về vệ sinh, an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường… là nội dung cơ bản không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh của HHNS nói chung mà còn thúc đẩy XKHHNS của Việt Nam sang Nhật Bản hiệu quả [2].
Thứ hai, chính phủ cần chú trọng xây dựng khung pháp lý, các quy định và tổ chức hoạt động để có thể thúc đẩy XKHHNS. Các chính sách thúc đẩy xuất khẩu tập trung vào các ưu tiên thị trường được phân bổ cho các ngành hoặc sản phẩm có tiềm năng tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, đặc biệt là các ngành có các hiệp định thương mại tự do có hiệu lực [100]. Ở quốc gia khác là Ấn Độ, việc ban hành các chính sách 16 cụ thể cũng là hành động quan trọng của chính phủ để thúc đẩy XKHHNS. Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ (2018) đã khẳng định thúc đẩy XKHHNS thông qua các chính sách được thiết kế để khai thác tốt nhất lợi thế của đất nước nhưng cũng khắc phục những hạn chế trong sản xuất nông sản.
Chính sách này hướng tới việc nâng cao năng suất, cải thiện thu nhập thông qua việc bổ sung giá trị tại chính nguồn sẽ giúp giảm thiểu tổn thất trong chuỗi giá trị [84]. Nghiên cứu ở Việt Nam của Nguyễn Minh Sơn (2010) cũng cho thấy chính sách tiếp cận thị trường, mở rộng thị trường, quảng bá nông sản Việt Nam trong và ngoài nước thông qua các kênh thông tin [50] chính là nội dung cần thiết để thúc đẩy XKHHNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời, đây cũng là nội dung quan trọng thể hiện vai trò của Nhà nước trong thúc đẩy XKHHNS. Chính vì vậy, Trịnh Thị Ái Hoa (2007) đã đi sâu phân tích, đề cập khá toàn diện các cơ chế, chính sách đã được Nhà nước ban hành trong thời gian qua đối với xuất khẩu hàng hoá nông sản của Việt Nam [18].
Thứ ba, để thúc đẩy XKHHNS là sự cần thiết phải mở rộng mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa các quốc gia làm tiền đề cho hoạt động trao đổi thương mại [15]. Từ đó, việc phát triển thị trường ở từng quốc gia nhập khẩu nông sản mới có nền tảng để thực hiện. Ngoài ra tăng cường liên kết để nâng cao sức cạnh tranh trên cơ sở tổ chức tốt các chuỗi giá trị ngành hàng và bảo đảm quyền lợi của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị. Chính phủ cũng cần tăng cường ký kết các hợp tác kinh tế song phương với các nước khác về xuất nhập khẩu hàng nông sản với những điều kiện cụ thể nhằm tạo điều kiện cho các DN xuất khẩu hàng nông sản có hướng tiếp cận và mở rộng thị trường [23].
Thứ tư, kiểm soát đảm bảo chất lượng hàng NSXK là nội dung khá quan trọng để có thể thúc đẩy XKHHNS ra thị trường quốc tế [26]. Trong các khu vực mậu dịch tự do, rào cản lớn nhất là các tiêu chuẩn về chất lượng bởi hàng rào thuế quan cũng như các công cụ hạn chế thương mại khác đều bị dỡ bỏ bởi các cam kết song phương, đa phương [26]. Chính vì vậy, kiểm soát và đảm bảo chất lượng sẽ giúp hàng nông sản có thể vượt qua các rào cản kỹ thuật ngày một nhiều hơn. Nghiên cứu của Sayeeda Bano, Yoshiaki Takahashi, Frank Scrimgeour (2013) cho thấy thực hiện cải cách trong phương thức sản xuất hàng nông sản xuất khẩu theo hướng hiện đại, hướng đến tuân 17 thủ đầy đủ quy trình sản xuất “sạch” là điều quan trọng để giúp HHNS có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế [139].
Thứ năm, các nghiên cứu cũng khẳng định việc xây dựng hệ thống thông tin và xúc tiến bán hàng giúp thúc đẩy XKHHNS. Eric Osei-Assibey (2015) đã chỉ rõ xúc tiến xuất khẩu giúp Ghana có thể đưa hàng nông sản của mình ra nhiều quốc gia. Trong đó, chính phủ thực hiện một loạt các hoạt động hỗ trợ kinh doanh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.