Mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án có cấu trúc gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu. Chƣơng 2: Phân tích các biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái và ngữ nghĩa. Chƣơng 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với các biểu đạt thời gian tƣơng ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật.
Chƣơng 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam, đề xuất lƣu ý trong dạy và học có liên quan đến thời 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung Phạm trù thời là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Đây đƣợc coi là một trong những phạm trù hình thái học quan trọng nhất của động từ.
Về cơ bản, Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định đƣợc nêu ra trong lời nói. Việc nghiên cứu và xác định phạm trù thời của động từ đã có một lịch sử lâu đời và cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống, ―Thời‖ dịch từ tiếng Latinh ―Tempus‖ là một phạm trù liên quan tới các mối quan hệ thời gian đƣợc diễn hiện bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của động từ. Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ, hiện tại và tƣơng lai.
Tuy xuất phát từ các cứ liệu của ngôn ngữ học truyền thống, nhƣng có thể nói, cho đến nay, với rất nhiều ngữ liệu mới đƣợc cập nhật, sự đối lập 3 vế về thời này vẫn đƣợc coi là đặc điểm phổ quát cho nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Guillaume (1929) đã phân biệt Thời thành Thời bao hàm và Thời hiện lộ. Thời bao hàm là Thời gắn liền với động từ ở chính trong động từ. Thời hiện lộ là Thời mà phát ngôn gắn cho nó dƣới dạng quá khứ, hiện tại hoặc tƣơng lai.
Guillaume cũng cho rằng Thời bao hàm là thể (aspect), Thời hiện lộ là thời của sự tình (tens) đƣợc thực hiện bằng các yếu tố hình thái đơn thuần nhƣ việc sử dụng một hệ thống biến tố nên trong những ngôn ngữ biến hình nhƣ tiếng Anh và tiếng Pháp thời thƣờng che lấp thể [78.]. Các khái niệm thời bao hàm và thời hiện lộ này hiện nay hầu nhƣ không đƣợc viện dẫn đến trong các nghiên cứu về thời. Khi nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa của biểu đạt thời, Reichenbach H. Cũng trong cách nhìn nhận này, W.
Nửa sau thế kỷ 20, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thời, thể của các học giả tên tuổi trên thế giới nhƣ Benveniste E.v… Cùng với sự phát triển của ngành ngữ pháp học và các kết quả nghiên cứu mới đƣợc bổ sung trong nghiên cứu về thời, mối quan hệ giữa thời gian và biểu đạt thời gian ngày càng đƣợc nhìn nhận một cách khách quan và biện chứng hơn. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ đều thống nhất rằng thời gian có mặt trong thế giới khách quan, tồn tại khách quan bên ngoài các ngôn ngữ nhƣ không khí, nƣớc,. còn thời lại là một phạm trù của việc biểu đạt. Nội dung và cách thức biểu đạt của thời không hẳn đã hoàn toàn giống nhau giữa các ngôn ngữ.
(1966), ―tính thời gian là một cái khung vốn sẵn có trong tư duy. Nó được tạo ra trên thực tế, trong quá trình phát ngôn và bởi quá trình phát ngôn. Từ sự phát ngôn mà khởi nguồn phạm trù hiện tại và từ phạm trù hiện tại mà đẻ ra phạm trù thời‖ [77.]. Từ mối quan hệ của thời điểm diễn ra sự kiện với thời điểm làm mốc qui chiếu, các nhà nghiên cứu đã phân biệt Thời thành hai loại là: Thời tuyệt đối (absolute tense) và Thời tƣơng đối (relative tense).
Cách phân loại này là khá đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu.Comrie (1978) cho rằng, ―Thời biểu thị thời gian của sự tình trong đối chiếu với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phát ngôn‖. Ông cũng đƣa ra và phân biệt hai khái niệm là thời tuyệt đối (absolute tense) và thời tƣơng đối (relative tense). Thời tuyệt đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của tình huống với thời điểm phát ngôn. Thời tƣơng đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của tình huống với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói.
Hay nói cách khác thời là cách định vị sự tình trong thời gian đƣợc ngữ pháp hóa [68.]. 9 Hiện nay, khái niệm thời tuyệt đối và thời tƣơng đối đã trở thành những nhận thức chung trong nghiên cứu về thời. (1998) cũng nêu, phạm trù thời thể hiện mối quan hệ của hành động với thời điểm nói hoặc một thời điểm khác nào đó xét dƣới góc độ xảy ra trƣớc, đồng thời hay tiếp sau thời điểm đó. Trong đó, thời tuyệt đối phản ánh mối quan hệ của hành động với thời điểm nói.
Các mối tƣơng quan đó có thể là đồng thời với thời điểm nói, trƣớc thời điểm nói hay sau thời điểm nói. Còn thời tƣơng đối thì phản ánh mối quan hệ của hành động với một thời điểm khác nào đấy, thƣờng là với thời gian diễn tiến của một hành động khác [29.]. Trong liên quan đến thời gian và các biểu đạt thời trong ngôn ngữ, kết quả nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học cho thấy có sự biểu đạt tƣơng ứng theo thế tam phân giữa thời với thời gian bên ngoài thành thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai nhƣ các ngôn ngữ Ấn Âu, nhƣng cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng trong một số ngôn ngữ nhƣ tiếng Nhật chỉ có sự đối lập lƣỡng phân của thời quá khứ và thời phi quá khứ mà thôi. Ngoài ra, mối liên quan giữa thời, thể, tình thái cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến.
Hiện nay TAM (Tense/ Aspect/ Modality) đã và đang trở thành một khái niệm phổ biến trong nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của động từ (nói riêng) và vị từ (nói chung). Có thể thấy, có rất nhiều quan điểm của các học giả về phạm trù thời, phản ánh cách nhìn nhận về vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau, nhƣng có thể khẳng định, ―thời‖ trƣớc hết là một phạm trù ngữ pháp đƣợc khái quát hóa lên từ các biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ biến hình, phản ánh cách phân chia sự tình trên trục thời gian đó. Cùng với thời gian, nhiều kết quả nghiên cứu về thời trong các ngôn ngữ nhƣ tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Trung cũng đã và đang đƣợc công bố, tạo ra những cách nhìn nhận mới, cung cấp thêm những cứ liệu thực chứng mới để các nghiên cứu về thời trong ngôn ngữ học và phổ quát ngôn ngữ đƣợc trở nên linh hoạt hơn, toàn diện và sâu sắc hơn. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã đƣợc quan tâm từ thời kỳ trung thế9 nhƣng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật hiện đại phải kể tới là của Yuzawa (1929).
Tác giả đã chỉ ra dạng chia của động từ ―テ イ/ル te i/ru‖ hay ―テ アル te a/ru‖ là hình thái của thời, thể trong tiếng Nhật thời kỳ trung đại khác nhiều so với hình thái biểu hiện thời, thể trong tiếng Nhật hiện đại. Cụ thể, ở thời kỳ trung đại, thời, thể sử dụng dạng ―te a/ru‖, trong khi tiếng Nhật hiện đại sử dụng dạng ―te i/ru‖. Ngoài ra, ở thời trung đại, ―te i/ru‖ chỉ giới hạn sử dụng với những chủ ngữ chỉ cảm xúc còn ―te a/ru‖ thì tự do kết hợp với cả các nội động từ [133.]. Trong tiếng Nhật hiện đại, có thể kể tới một số tên tuổi của các nhà nghiên cứu lớn gắn với các công trình nghiên cứu thời để lại nhiều dấu ấn quan trọng nhƣ: Kindaichi Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Kudo Mayumi (1995), Nitta Yoshio (2007), Suzuki Tai (2013), Iori Isao & Kiyomi (2016) v.
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật đã đƣa ra nhiều khái niệm về thời trong tiếng Nhật nhƣ: ―Thời là phạm trù ngữ pháp liên quan đến cách biểu thị thời gian của hành động, trạng thái, lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui chiếu‖ [101., tr18]. Theo Kato và Fukuchi (1989), ―đặc trưng lớn nhất của tiếng nói con người là biểu hiện được nhiều sự việc mà không bị hạn chế bởi thời điểm nói ―hiện tại‖, tự do biểu hiện những sự việc từ rất lâu trong quá khứ, những sự việc ở tương lai hay những sự việc không có thật. Việc nắm bắt sự vật, sự việc như một điểm trong dòng chảy của thời gian và những sự vật, sự việc đó xảy ra trước hay sau thời điểm nói được gọi là thời‖ [93., tr1]. Tiếng Nhật hiện đại coi có sự đối lập về thời giữa các dạng chia động từ ―スル suru‖ và ―シタ shita‖, trong khi điều này đã không đƣợc biết đến trong ngữ pháp tiếng Nhật truyền thống.
Bởi lẽ, trong ngữ pháp truyền thống, dạng chia của động từ ―shita‖ đã bị tách thành hai yếu tố là ―shi‖ và ―ta‖, trong đó, ―ta‖ đƣợc coi là trợ động 9 thế kỉ 12 đến thế kỉ 16 11 từ tách rời khỏi cấu trúc tổng thể của động từ, trở thành một từ loại khác và không còn đƣợc coi là một phạm trù ngữ pháp của động từ nữa [101.]. Nhận định ―suru‖ và ―shita‖ là những yếu tố thành phần của động từ, chúng có sự đối lập về thời, tạo ra bƣớc ngoặt trong nghiên cứu về thời của tiếng Nhật hiện đại. Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi (1989), Masuoka & Takubo (1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp của động từ nhƣ trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị ngữ là tính từ và danh từ. Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng ―ta‖ biểu hiện thời Quá khứ và dạng ―ru‖ biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính chất của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói.