Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học thời trong tiếng nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng việt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu biểu hiện thời trong tiếng Nhật và tương đương tiếng Việt, phân tích sâu về cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa.

Trường đại học

Trường Đại học Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Nhật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
170
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

0.2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

0.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

0.5. NGỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

0.6. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN

0.7. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung

1.1.2. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản

1.1.3. Tình hình nghiên cứu thời tại Việt Nam

1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.2.1. Biểu hiện thời gian và phạm trù Thời

1.2.2. Phạm trù thời nói chung và quan điểm làm việc của luận án

1.2.3. Phạm trù thời trong mối quan hệ với thể và tình thái

1.2.4. Những vấn đề đối chiếu và dịch thuật liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.5. THỜI TRONG TIẾNG NHẬT

1.2.5.1. Sự đối lập lưỡng phân và phạm vi biểu hiện thời trong tiếng Nhật
1.2.5.2. Thời tuyệt đối và thời tương đối

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THÁI VÀ NGỮ NGHĨA

2.1. PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THÁI CỦA VỊ TỪ

2.1.1. Biểu hiện của thời tuyệt đối

2.1.2. Biểu hiện của thời tương đối

2.2. PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN NGỮ NGHĨA CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TỪ GÓC ĐỘ TÍNH CHẤT CỦA VỊ NGỮ

2.2.1. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong vị ngữ trạng thái

2.2.2. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong vị ngữ hành động

2.3. PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN NGỮ NGHĨA CỦA THỜI TIẾNG NHẬT TRONG CẤU TRÚC CÚ PHÁP CÓ/ VẮNG (T) TRONG QUAN HỆ TƯƠNG TÁC VỚI (Pht)

2.3.1. Biểu hiện của thời trong cấu trúc câu không có (T)

2.3.2. Biểu hiện của thời trong cấu trúc câu có chứa (T)

2.3.3. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong cấu trúc câu có chứa phó từ liên quan đến yếu tố thời gian

2.3.4. Mối liên hệ giữa (T) và (Pht) trong cấu trúc câu ghép

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH BIỂU ĐẠT CỦA THỜI TIẾNG NHẬT QUA ĐỐI CHIẾU VỚI CÁCH BIỂU ĐẠT THỜI GIAN TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN CỨ LIỆU DỊCH NHẬT - VIỆT VÀ VIỆT - NHẬT

3.1. PHÂN TÍCH BIỂU ĐẠT THỜI TIẾNG NHẬT QUA CÁC BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN CỨ LIỆU DỊCH NHẬT - VIỆT

3.1.1. Đối chiếu thời tuyệt đối tiếng Nhật với các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt

3.1.2. Xem xét thời tương đối và các biểu đạt tương đương trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt

3.2. PHÂN TÍCH BIỂU ĐẠT THỜI TIẾNG NHẬT QUA CÁC BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN CỨ LIỆU DỊCH VIỆT - NHẬT

3.2.1. Xem xét các phát ngôn không có yếu tố (T) và (P) trong tiếng Việt được dịch sang tiếng Nhật

3.2.2. Xem xét các phát ngôn có chứa các yếu tố ngữ pháp biểu hiện thời gian (P) được dịch sang tiếng Nhật

4. CHƯƠNG 4: KHẢO SÁT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI TRONG TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM - ĐỀ XUẤT LƯU Ý TRONG DẠY VÀ HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI

4.1. XEM XÉT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI TIẾNG NHẬT QUA KHẢO SÁT VĂN BẢN DỊCH CỦA SINH VIÊN

4.1.1. Khảo sát lần thứ nhất

4.1.2. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ nhất

4.1.3. Khảo sát lần thứ hai

4.1.4. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ hai

4.2. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ LƯU Ý TRONG DẠY - HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI

4.2.1. Thực trạng công tác giảng dạy tiếng Nhật có liên quan đến thời

4.2.2. Một số lưu ý trong dạy - học liên quan đến thời cho sinh viên Việt Nam

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT CÁC THUẬT NGỮ

DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thời gian trong tiếng Nhật

Thời gian trong tiếng Nhật là một phạm trù ngữ pháp quan trọng, có vai trò định vị sự kiện trong không gian và thời gian. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các biểu hiện của thời gian trong tiếng Nhật và cách thức mà chúng tương ứng với các biểu hiện trong tiếng Việt. Việc hiểu rõ về thời gian trong tiếng Nhật không chỉ giúp người học nắm bắt ngữ pháp mà còn nâng cao khả năng giao tiếp và dịch thuật. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, việc sử dụng đúng thời gian sẽ giúp cho việc lý giải và xử lý các tài liệu, văn bản trở nên logic và hiệu quả hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu thời gian trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Tính cấp thiết của nghiên cứu

Trong những năm gần đây, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày càng phát triển, kéo theo nhu cầu nghiên cứu và giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về thời gian trong tiếng Nhật vẫn còn nhiều hạn chế. Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào ngữ pháp và từ vựng mà chưa đi sâu vào các biểu hiện cụ thể của thời gian. Do đó, nghiên cứu này không chỉ bổ sung vào kho tàng tri thức về ngôn ngữ học mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho việc giảng dạy tiếng Nhật tại Việt Nam.

II. Phân tích biểu hiện của thời trong tiếng Nhật

Biểu hiện của thời gian trong tiếng Nhật được phân chia thành hai loại chính: thời tuyệt đốithời tương đối. Thời tuyệt đối thường được sử dụng để chỉ một thời điểm cụ thể trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, trong khi thời tương đối lại phụ thuộc vào ngữ cảnh và mối quan hệ giữa các sự kiện. Việc phân tích các biểu hiện này giúp làm rõ cách thức mà người Nhật sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt thời gian. Các nghiên cứu cho thấy rằng, thời gian trong tiếng Nhật không chỉ đơn thuần là một yếu tố ngữ pháp mà còn là một phần quan trọng trong việc truyền đạt ý nghĩa và cảm xúc trong giao tiếp.

2.1. Biểu hiện hình thái của thời

Biểu hiện hình thái của thời gian trong tiếng Nhật được thể hiện qua các hình thức ngữ pháp khác nhau. Các động từ, tính từ và danh từ đều có thể mang các yếu tố chỉ thời gian. Việc phân tích các hình thức này giúp xác định rõ ràng cách thức mà thời gian được biểu đạt trong các ngữ cảnh khác nhau. Nghiên cứu cho thấy rằng, sự khác biệt trong cách biểu đạt thời gian giữa tiếng Nhật và tiếng Việt có thể gây khó khăn cho người học tiếng Nhật, đặc biệt là trong việc dịch thuật và giao tiếp.

III. Đối chiếu giữa thời trong tiếng Nhật và tiếng Việt

Nghiên cứu này cũng tiến hành đối chiếu giữa thời gian trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt. Việc này không chỉ giúp làm rõ những điểm tương đồng mà còn chỉ ra những khác biệt trong cách thức biểu đạt thời gian giữa hai ngôn ngữ. Các phó từ chỉ thời gian trong tiếng Việt như 'đã', 'sẽ', 'đang' có thể không tương ứng một cách trực tiếp với các hình thức trong tiếng Nhật. Điều này cho thấy rằng, việc hiểu và sử dụng thời gian trong tiếng Nhật đòi hỏi người học phải có kiến thức sâu rộng về ngữ pháp và ngữ nghĩa của cả hai ngôn ngữ.

3.1. Các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

Khi đối chiếu các biểu hiện thời gian trong tiếng Nhật với tiếng Việt, có thể thấy rằng không phải lúc nào cũng có sự tương ứng một-một. Ví dụ, trong tiếng Nhật, một số cấu trúc ngữ pháp có thể không có tương đương trực tiếp trong tiếng Việt. Điều này đặt ra thách thức cho người học tiếng Nhật, đặc biệt là trong việc dịch thuật. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin hữu ích cho việc giảng dạy và học tập, giúp người học có thể nắm bắt và sử dụng thời gian một cách chính xác hơn.

IV. Đề xuất trong giảng dạy tiếng Nhật

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số đề xuất được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thời gian trong tiếng Nhật cho sinh viên Việt Nam. Việc sử dụng các tài liệu thực tế, kết hợp với các phương pháp giảng dạy hiện đại sẽ giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về thời gian trong tiếng Nhật. Ngoài ra, việc tổ chức các buổi thực hành giao tiếp cũng rất cần thiết để sinh viên có thể áp dụng lý thuyết vào thực tiễn.

4.1. Phương pháp giảng dạy hiệu quả

Để nâng cao hiệu quả giảng dạy, cần thiết phải áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực, khuyến khích sinh viên tham gia vào quá trình học tập. Việc sử dụng các tình huống thực tế trong giảng dạy sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực hành và củng cố kiến thức về thời gian trong tiếng Nhật. Đồng thời, việc cung cấp các tài liệu tham khảo phong phú cũng sẽ hỗ trợ sinh viên trong việc tự học và nghiên cứu.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án có cấu trúc gồm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu. Chƣơng 2: Phân tích các biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái và ngữ nghĩa. Chƣơng 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với các biểu đạt thời gian tƣơng ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật.

Chƣơng 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt Nam, đề xuất lƣu ý trong dạy và học có liên quan đến thời 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung Phạm trù thời là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Đây đƣợc coi là một trong những phạm trù hình thái học quan trọng nhất của động từ.

Về cơ bản, Thời là phạm trù ngữ pháp của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn hoặc với một thời điểm nhất định đƣợc nêu ra trong lời nói. Việc nghiên cứu và xác định phạm trù thời của động từ đã có một lịch sử lâu đời và cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau. Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống, ―Thời‖ dịch từ tiếng Latinh ―Tempus‖ là một phạm trù liên quan tới các mối quan hệ thời gian đƣợc diễn hiện bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của động từ. Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ, hiện tại và tƣơng lai.

Tuy xuất phát từ các cứ liệu của ngôn ngữ học truyền thống, nhƣng có thể nói, cho đến nay, với rất nhiều ngữ liệu mới đƣợc cập nhật, sự đối lập 3 vế về thời này vẫn đƣợc coi là đặc điểm phổ quát cho nhiều ngôn ngữ trên thế giới. Guillaume (1929) đã phân biệt Thời thành Thời bao hàm và Thời hiện lộ. Thời bao hàm là Thời gắn liền với động từ ở chính trong động từ. Thời hiện lộ là Thời mà phát ngôn gắn cho nó dƣới dạng quá khứ, hiện tại hoặc tƣơng lai.

Guillaume cũng cho rằng Thời bao hàm là thể (aspect), Thời hiện lộ là thời của sự tình (tens) đƣợc thực hiện bằng các yếu tố hình thái đơn thuần nhƣ việc sử dụng một hệ thống biến tố nên trong những ngôn ngữ biến hình nhƣ tiếng Anh và tiếng Pháp thời thƣờng che lấp thể [78.]. Các khái niệm thời bao hàm và thời hiện lộ này hiện nay hầu nhƣ không đƣợc viện dẫn đến trong các nghiên cứu về thời. Khi nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa của biểu đạt thời, Reichenbach H. Cũng trong cách nhìn nhận này, W.

Nửa sau thế kỷ 20, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thời, thể của các học giả tên tuổi trên thế giới nhƣ Benveniste E.v… Cùng với sự phát triển của ngành ngữ pháp học và các kết quả nghiên cứu mới đƣợc bổ sung trong nghiên cứu về thời, mối quan hệ giữa thời gian và biểu đạt thời gian ngày càng đƣợc nhìn nhận một cách khách quan và biện chứng hơn. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ đều thống nhất rằng thời gian có mặt trong thế giới khách quan, tồn tại khách quan bên ngoài các ngôn ngữ nhƣ không khí, nƣớc,. còn thời lại là một phạm trù của việc biểu đạt. Nội dung và cách thức biểu đạt của thời không hẳn đã hoàn toàn giống nhau giữa các ngôn ngữ.

(1966), ―tính thời gian là một cái khung vốn sẵn có trong tư duy. Nó được tạo ra trên thực tế, trong quá trình phát ngôn và bởi quá trình phát ngôn. Từ sự phát ngôn mà khởi nguồn phạm trù hiện tại và từ phạm trù hiện tại mà đẻ ra phạm trù thời‖ [77.]. Từ mối quan hệ của thời điểm diễn ra sự kiện với thời điểm làm mốc qui chiếu, các nhà nghiên cứu đã phân biệt Thời thành hai loại là: Thời tuyệt đối (absolute tense) và Thời tƣơng đối (relative tense).

Cách phân loại này là khá đồng nhất giữa các nhà nghiên cứu.Comrie (1978) cho rằng, ―Thời biểu thị thời gian của sự tình trong đối chiếu với các thời điểm khác, thường là với thời điểm phát ngôn‖. Ông cũng đƣa ra và phân biệt hai khái niệm là thời tuyệt đối (absolute tense) và thời tƣơng đối (relative tense). Thời tuyệt đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của tình huống với thời điểm phát ngôn. Thời tƣơng đối biểu thị sự đối chiếu thời gian của tình huống với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói.

Hay nói cách khác thời là cách định vị sự tình trong thời gian đƣợc ngữ pháp hóa [68.]. 9 Hiện nay, khái niệm thời tuyệt đối và thời tƣơng đối đã trở thành những nhận thức chung trong nghiên cứu về thời. (1998) cũng nêu, phạm trù thời thể hiện mối quan hệ của hành động với thời điểm nói hoặc một thời điểm khác nào đó xét dƣới góc độ xảy ra trƣớc, đồng thời hay tiếp sau thời điểm đó. Trong đó, thời tuyệt đối phản ánh mối quan hệ của hành động với thời điểm nói.

Các mối tƣơng quan đó có thể là đồng thời với thời điểm nói, trƣớc thời điểm nói hay sau thời điểm nói. Còn thời tƣơng đối thì phản ánh mối quan hệ của hành động với một thời điểm khác nào đấy, thƣờng là với thời gian diễn tiến của một hành động khác [29.]. Trong liên quan đến thời gian và các biểu đạt thời trong ngôn ngữ, kết quả nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học cho thấy có sự biểu đạt tƣơng ứng theo thế tam phân giữa thời với thời gian bên ngoài thành thời quá khứ, thời hiện tại, thời tương lai nhƣ các ngôn ngữ Ấn Âu, nhƣng cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng trong một số ngôn ngữ nhƣ tiếng Nhật chỉ có sự đối lập lƣỡng phân của thời quá khứ và thời phi quá khứ mà thôi. Ngoài ra, mối liên quan giữa thời, thể, tình thái cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến.

Hiện nay TAM (Tense/ Aspect/ Modality) đã và đang trở thành một khái niệm phổ biến trong nghiên cứu các phạm trù ngữ pháp của động từ (nói riêng) và vị từ (nói chung). Có thể thấy, có rất nhiều quan điểm của các học giả về phạm trù thời, phản ánh cách nhìn nhận về vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau, nhƣng có thể khẳng định, ―thời‖ trƣớc hết là một phạm trù ngữ pháp đƣợc khái quát hóa lên từ các biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ biến hình, phản ánh cách phân chia sự tình trên trục thời gian đó. Cùng với thời gian, nhiều kết quả nghiên cứu về thời trong các ngôn ngữ nhƣ tiếng Nhật, tiếng Việt, tiếng Trung cũng đã và đang đƣợc công bố, tạo ra những cách nhìn nhận mới, cung cấp thêm những cứ liệu thực chứng mới để các nghiên cứu về thời trong ngôn ngữ học và phổ quát ngôn ngữ đƣợc trở nên linh hoạt hơn, toàn diện và sâu sắc hơn. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã đƣợc quan tâm từ thời kỳ trung thế9 nhƣng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật hiện đại phải kể tới là của Yuzawa (1929).

Tác giả đã chỉ ra dạng chia của động từ ―テ イ/ル te i/ru‖ hay ―テ アル te a/ru‖ là hình thái của thời, thể trong tiếng Nhật thời kỳ trung đại khác nhiều so với hình thái biểu hiện thời, thể trong tiếng Nhật hiện đại. Cụ thể, ở thời kỳ trung đại, thời, thể sử dụng dạng ―te a/ru‖, trong khi tiếng Nhật hiện đại sử dụng dạng ―te i/ru‖. Ngoài ra, ở thời trung đại, ―te i/ru‖ chỉ giới hạn sử dụng với những chủ ngữ chỉ cảm xúc còn ―te a/ru‖ thì tự do kết hợp với cả các nội động từ [133.]. Trong tiếng Nhật hiện đại, có thể kể tới một số tên tuổi của các nhà nghiên cứu lớn gắn với các công trình nghiên cứu thời để lại nhiều dấu ấn quan trọng nhƣ: Kindaichi Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Kudo Mayumi (1995), Nitta Yoshio (2007), Suzuki Tai (2013), Iori Isao & Kiyomi (2016) v.

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật đã đƣa ra nhiều khái niệm về thời trong tiếng Nhật nhƣ: ―Thời là phạm trù ngữ pháp liên quan đến cách biểu thị thời gian của hành động, trạng thái, lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui chiếu‖ [101., tr18]. Theo Kato và Fukuchi (1989), ―đặc trưng lớn nhất của tiếng nói con người là biểu hiện được nhiều sự việc mà không bị hạn chế bởi thời điểm nói ―hiện tại‖, tự do biểu hiện những sự việc từ rất lâu trong quá khứ, những sự việc ở tương lai hay những sự việc không có thật. Việc nắm bắt sự vật, sự việc như một điểm trong dòng chảy của thời gian và những sự vật, sự việc đó xảy ra trước hay sau thời điểm nói được gọi là thời‖ [93., tr1]. Tiếng Nhật hiện đại coi có sự đối lập về thời giữa các dạng chia động từ ―スル suru‖ và ―シタ shita‖, trong khi điều này đã không đƣợc biết đến trong ngữ pháp tiếng Nhật truyền thống.

Bởi lẽ, trong ngữ pháp truyền thống, dạng chia của động từ ―shita‖ đã bị tách thành hai yếu tố là ―shi‖ và ―ta‖, trong đó, ―ta‖ đƣợc coi là trợ động 9 thế kỉ 12 đến thế kỉ 16 11 từ tách rời khỏi cấu trúc tổng thể của động từ, trở thành một từ loại khác và không còn đƣợc coi là một phạm trù ngữ pháp của động từ nữa [101.]. Nhận định ―suru‖ và ―shita‖ là những yếu tố thành phần của động từ, chúng có sự đối lập về thời, tạo ra bƣớc ngoặt trong nghiên cứu về thời của tiếng Nhật hiện đại. Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi (1989), Masuoka & Takubo (1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp của động từ nhƣ trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị ngữ là tính từ và danh từ. Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng ―ta‖ biểu hiện thời Quá khứ và dạng ―ru‖ biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính chất của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Thời trong tiếng Nhật và biểu hiện tương đương trong tiếng Việt là một nghiên cứu chuyên sâu về cách biểu đạt thời gian trong tiếng Nhật và sự tương đồng, khác biệt với tiếng Việt. Tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về cấu trúc ngữ pháp liên quan đến thời gian trong hai ngôn ngữ mà còn cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa và tư duy ngôn ngữ của người Nhật và người Việt. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai đang nghiên cứu ngôn ngữ học, dịch thuật, hoặc đơn giản là muốn nâng cao hiểu biết về tiếng Nhật và tiếng Việt.

Để mở rộng kiến thức về các khía cạnh ngôn ngữ học tương tự, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian trong tiếng Anh với tiếng Việt, nghiên cứu này tập trung vào sự tương đồng và khác biệt trong cách sử dụng giới từ không gian giữa hai ngôn ngữ. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ về nhóm từ chỉ hành động nói năng trong tiếng Anh và tiếng Việt cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu sâu hơn về ngữ nghĩa và cách biểu đạt hành động trong hai ngôn ngữ. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ về tham tố đứng sau vị từ trạng thái trong tiếng Việt sẽ giúp bạn khám phá thêm về cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa trong tiếng Việt. Hãy nhấp vào các liên kết để khám phá thêm những góc nhìn thú vị và chuyên sâu về ngôn ngữ học!